2

Những Câu Hỏi Hay Trên Quora (2)

1. Tại sao một số người chọn sống trầm cảm hơn là sống một cuộc sống hạnh phúc, ngay cả khi họ biết hoặc nhớ cảm giác hạnh phúc là như thế nào?

Trả lời bởi:Toorja Chakraborty, từng mắc trầm cảm và OCD.

– Câu hỏi này khiến tôi vừa vui mà cũng vừa khó chịu. Tôi vui vì có người cởi mở hỏi như vầy còn hơn là tự mình cho ra những lời giải thích giả thuyết về trầm cảm. Tôi khó chịu bởi vì tôi thấy vẫn còn có nhiều người giữ suy nghĩ rằng trầm cảm là thứ mà người ta có thể chọn để sống cùng.

Nếu bạn không biết thì trầm cảm là kẻ giết người thầm lặng. Nó giết chết tâm trí người khác bằng những cách rất khôn khéo và khó chơi. Một khi nó xong với tâm trí của bạn rồi, thì từ từ bạn sẽ phải đối mặt với sự suy nhược của cả tâm trí lẫn cơ thể. Tôi từng nhìn thấy một người với cơ thể vạm vỡ và nặng gần 77kg trong vòng một tháng sụt xuống còn có 55kg mà không hề trải qua bất kỳ hoạt động thể thao nào. Cơn trầm cảm nặng khiến họ không thể rời giường, thậm chí họ chẳng có động lực để uống hay ăn thứ gì cả. Trầm cảm ngăn họ, không cho họ cảm thấy khát hay đói. Những ai chưa từng trải qua cảm giác này sẽ không thể nào hiểu được những hậu quả khủng khiếp của trầm cảm. Và bây giờ thì bạn biết rồi đấy, trầm cảm chẳng phải là thứ dễ chịu hay hấp dẫn gì cả.

Vấn đề ở đây là, khi bạn mắc ung thư, bạn sẽ có rất nhiều triệu chứng thể lý. Trầm cảm là thứ mà dù bạn bị nặng cỡ nào cũng khó có thể thấy được triệu chứng rõ ràng từ bên ngoài, trừ khi người ấy suy nhược hoàn toàn hoặc tự tử. Có rất nhiều trường hợp tự tử mà người thân và bạn bè của nạn nhân không quan tâm lắm đến căn bệnh trầm cảm .Và cuối cùng thì họ nhận ra mức độ nặng nề của căn bệnh này nhưng đã quá muộn khi người đó không còn nữa.

Chỉ có những người nhạy cảm mới có thể cảm nhận được cơn giận dữ của người trầm cảm. Bởi vì nhịp điệu tâm trí của một người chỉ có thể được người khác cảm nhận bằng tâm trí của họ, đôi tay của bạn không thể làm gì được.

Bạn nên đối xử với nó như cách bạn đối xử với những căn bệnh khác. Nếu một người mắc trầm cảm nặng nhận được sự chữa trị thích hợp, họ có thể quay lại guồng quay cuộc sống bình thường.

Tôi đoán rằng bây giờ bạn thấy rõ ràng hơn rằng không ai muốn chọn sống với trầm cảm cả. Bạn có chọn ung thư hay không? Câu trả lời của bạn về câu hỏi này cũng là câu trả lời hoàn hảo cho câu hỏi bên trên của bạn.

Trả lời bởi: Geoffrey Brickley. Được chẩn đoán mắc PTSD và từng tham gia một số thí nghiệm lâm sàng.

Tôi mắc PTSD. Đây không phải là sự lựa chọn. Nó là thứ mà tôi phải sống cùng, giống như bị mắc ung thư, hay chân bị tật. Đó là thứ mà tôi có thể cố gắng đấu tranh, giống như bạn có thể làm phẫu thuật chỉnh hình hoặc hoá trị ung thư. Đây không phải là chứng có thể được chữa khỏi nhanh chóng. Nó đơn thuần là một phần của tôi. Sự thay đổi cấu trúc ở hồi hải mãi hay hạch hạnh nhân mà tôi phải sống cùng. Không có sự lựa chọn nào liên quan ở đây cả.

Tương tự như thế, trầm cảm ảnh hưởng đến não bộ, đặc biệt là vùng hạch hạnh nhân, giống như chứng PTSD mà tôi mắc phải.

Đây không phải là sự lựa chọn. Đây là một chứng rối loạn có thể chữa trị được, nhưng nó không phải là quyết định “Ngày hôm nay, chân tôi sẽ không gãy. Ngày hôm nay, tôi quuyết định tôi sẽ không mắc ung thư.” Mọi thứ không xảy ra theo như logic ảo diệu của bạn. Cũng giống như tôi, những người mắc trầm cảm không có tự do chọn lựa. Đây là thứ mà bạn có thể cố gắng chữa trị, nhưng không phải là thứ mà bạn có thể quyết định thay đổi trong khoảng khắc. Ngay cả hành động cố gắng chữa trị cũng trở nên khó khăn với họ. Có những thứ ảnh hưởng đến cách bộ não vận hành. Thậm chí quyết định chữa trị có thể trở nên chẳng khả thi từ góc nhìn của bạn.

Link: https://www.quora.com/Why-do-some-people-choose-to-live-in-depression-rather-than-live-a-happier-life-even-when-they-know-or-remember-what-it-felt-like-to-be-happy

2. Triệu chứng trầm cảm kỳ lạ nhất nào mà bạn đã từng trải qua?

Trả lời bởi: Jessica Spencer. Người mắc trầm cảm kinh niên, dùng thuốc hơn 20 năm.

– Một buổi chiều nọ, tôi chuẩn bị làm một cái bánh sandwich cho bữa trưa. Bản thân chuyện này cũng đủ kỳ lạ, bởi vì năm 18t tôi thường không có đủ năng lượng cũng như động lực để tự làm bữa trưa cho mình. Tôi chỉ làm khi mẹ tôi cũng muốn thứ gì đó.

Mấy tuần trước đó, tôi đã bảo mẹ tôi để bơ trong tủ thường thay vì trong tủ lạnh. Vì tủ lạnh làm cho bơ cứng lại và khó cắt, nghĩa là khi nó sẽ dính cục khi tôi cố gắng trét bơ và đôi lúc tạo thành lỗ lởm chởm trên bánh nữa. và ngày hôm đó, tôi chẳng thể tìm thấy bơ trong tủ thường. Tôi kiểm tra các ngăn tủ khác và nhanh chóng, một cơn buồn bực và hoảng loạn quét nhanh qua tôi. Tôi cảm giác nước mắt đong đầy trong khi tôi đang hoảng hốt vì chẳng thể tìm thấy bơ ở đâu.

Khi tôi mở tủ lạnh ra thì tôi tìm thấy nó. Bơ cứng như một hòn đó, tôi để nó bên ngoài vài phút cho nó mềm xuống trong khi tôi bình tĩnh lại nhưng vô ích. Bơ vẫn cứn. Tôi từ bỏ và cố gắng trét nó lên bánh nhưng được giữa chừng thì tôi sụp đổ. Tôi đứng trong bếp, khóc muốn rớt mắt ra khi tôi nhận ra rằng tôi không thể làm một việc rất đơn giản. Đó là cảm giác khi yêu cầu của tôi bị mẹ làm lơ, áp lực khi cố gắng làm thứ ăn cho bản thân, và cả nỗi khủng hoảng khi không thể làm được một cái bánh sandwich đơn giản quét qua người tôi và khiến tôi sụp đổ như một đống hỗn độn.

Với tôi, đó là sự kiện đó là kỳ lạ nhất mà tôi từng trải qua.

https://www.quora.com/What-is-the-strangest-symptom-of-depression-that-you-have-ever-experienced

Nguyệt: Mình nghĩ câu thứ hai, những người mắc trầm cảm sẽ hiểu được cảm giác đó, khi cảm xúc dồn nén bị bùng nổ và tất cả những thứ tiêu cực ùa lên. Với mình, triệu chứng kỳ lạ nhất đó là khi mình nằm xụi trên giường, nghe bài Without the Trace của The Gazette và bỗng chốc nước mắt òa ra và mình muốn biến mất không để lại bất kỳ dấu vết nào như tựa bài. Cảm xúc vốn tưởng chai lỳ bỗng dưng bộc phát, và mệt mỏi tràn đầy. Mình cũng không cảm thấy đói mà chỉ cảm thấy trống rỗng và trong vòng 1 tuần, mình sụt khoảng 2kg.
Nhưng bằng cách nào đó mà mình vượt qua được. Mình nghĩ về tương lai, mình nghĩ về những thứ mình muốn làm và con đường đi đến những mục đích đó. Mình tập viết, viết những cãm xúc giận dữ, cô độc ra rồi quăng nó vào thùng rác. Mình tập thể thao, mình tập thỏa mãn và tự thưởng cho bản thân trước những thành công nhỏ nhặt mà mình đạt được. Và thế là mình đi được đến ngày hôm nay. Trầm cảm cứ thi thoảng quay lại thăm mình, nhưng mình sẽ không để nó hạ gục mình.

Hy vọng rằng các bạn, những người mắc trầm cảm, sẽ tìm được cách chăm sóc bản thân tốt nhất, và đừng để trầm cảm quyết định bạn là ai. Trầm cảm có thể chữa trị được, con đường tuy dài nhưng không phải không thế. Thế nên đừng đánh mất hy vọng. Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Bạn không có một mình.

Continue reading

0

[Tâm Lý Và Bệnh Chứng]: Rối Loạn Nhân Cách Ranh Giới

Ngày 20/6 này là ngày cuốn Tâm Lý Học Dị Thường – cuốn sách đầu tiên mà BMVN tìm hiểu, tổng hợp, viết, dịch và biên tập, cũng là cuốn thứ 4 trong chuỗi sách Tâm Lý Học Nháy Mắt của EZPsychology. Hôm trước có một số bạn trên page hỏi sách viết có khó hiểu không và nếu không có chuyên môn có đọc được không. Thế nên hôm nay mình xin nhá hàng trước một phần trong sách để các bạn đọc và cảm nhận. Bài viết thuộc chương 10 – Các rối loạn nhân cách.

——-

Rối loạn nhân cách ranh giới (Borderline Personality Disorder – BPD) thuộc cụm B của rối loạn nhân cách. Đặc tính của rối loạn này là nỗi sợ hãi bị bỏ rơi cùng cực, cảm giác về bản thân, các mối quan hệ bấp bênh, tâm trạng không ổn định. Trong một báo cáo trước Quốc hội về dạng rối loạn này, cơ quan Quản trị Dịch vụ Tâm thần và Lạm dụng thuốc (Substance Abuse and Mental Health Services Administration – SAMHSA) đã chỉ ra rằng khoảng 18 triệu người (chiếm 5,6%) người Mỹ sẽ phát bệnh tại một số thời điểm trong cuộc đời của họ. Chưa có tư liệu nào chỉ ra sự ảnh hưởng đáng kể từ sự khác biệt về giới tính. Cả phụ nữ và đàn ông đều có nguy cơ phát bệnh như nhau (SAMHSA, 2010).

Giống như những rối loạn nhân cách khác, do yêu cầu cao về các phương pháp điều trị, chăm sóc và các dịch vụ xã hội, những người mắc BPD họ chịu gánh nặng kinh tế khá lớn (Soeteman, Hakkaart-van Roijen, Verheul, & Busschbach, 2008). Những người mắc chứng rối loạn này cũng có tỉ lệ cao mắc các rối loạn khác như trầm cảm, lạm dụng thuốc, tự làm hại bản thân, rối loạn ăn uống. Khoảng 70% những người mắc BPD muốn tự tử và 4 – 9% thực sự tự tử (NIMH). Continue reading

0

[Sách] Tâm Lý Học Dị Thường (Xuất Bản 20/6/2017)

Hơn một năm trước mình cùng với nhóm BMVN nhận được lời mời cộng tác từ nhóm EZPsychology viết về tâm lý học dị thường. Qua một khoảng thời gian dài  tìm hiểu, tổng hợp, viết, dịch và biên tập, đội ngũ các admin Beautiful Mind VN đã hoàn thành nội dung cuốn sách. Đây là lần đầu tiên mình tham gia vào dự án lớn như thế nên khi nhận được tin sách sắp xuất bản mà mừng gần khóc luôn ấy. Cảm xúc vừa tự hào, vừa hạnh phúc vừa lo lắng lại hơi hơi sợ do mới viết lần đầu và cũng còn lạ lẫm với các thuật ngữ trong tiếng Việt (do chưa được thống nhất hoàn toàn), vì vậy cuốn sách có thể gặp phải những sai sót không tránh khỏi. Mong các bạn rộng lòng bỏ qua những sai sót ấy.

Mình và nhóm BMVN viết sách này với mong muốn đưa kiến thức tâm lý học dị thường đến gần với mọi người hơn và khiến những người đang mắc rối loạn tâm lý nhận ra họ không có một mình và luôn có những cách, những sự giúp đỡ có thể đưa họ trở lại cuộc sống bình thường. Vì thế cho nên các bạn có thể thấy là sách song ngữ nhưng giá khá “mềm” vì mình, nhóm BMVN cả nhóm EZPsych không nhận một đồng nhuận bút nào cả. Tất cả chi phí từ việc bán sách đều dùng để trả chi phí in ấn, xin giấy phép, xuất bản v…v. Nếu thiếu nhóm EZpsych còn phải bù vô nữa. Thế nên mong các bạn ủng hộ cho nhóm nhé.

19074807_10155387809763057_1820488622_o

TÂM LÝ HỌC TRONG NHÁY MẮT 4
Link đặt: http://www.trithuctrebooks.com/chi-tiet/95.html

Là cuốn thứ 4 nằm trong series sách “Tâm lý học trong nháy mắt” do Tri thức Trẻ Books phát hành, “Tâm lý học trong nháy mắt 4” hứa hẹn sẽ mang tới cho bạn những trải nghiệm lý thú, hữu ích.

….

“Trong thời đại công nghệ thông tin khi mọi thứ đều có thể dễ dàng được “google”, ta càng nhanh tự đưa ra kết luận về bệnh mình mắc phải. Nói cách khác, tự chuẩn đoán bệnh khá tràn lan, tuy nhiên nó rất nguy hiểm.
Ví dụ một người hay “mưa nắng thất thường” có thể tự chẩn đoán mình bị “hung cảm” hay “rối loạn tâm thần lưỡng cực”. Đọc nhiều là hữu ích, tuy nhiên bạn nên tìm sự giúp đỡ của các chuyên gia trong ngành như bác sĩ hay nhà tâm lý học nếu có phát hiện các dấu hiệu khác thường ở bản thân hay người thân quanh bạn.”

“Cuốn sách này là một thành quả đẹp của sự hợp tác giữa Beautiful Mind Vietnam và EzPsychology. Có thể bạn đã biết, Beautiful Mind Vietnam được thành lập vào đầu năm 2015 nhằm mục đích phổ biến tới cộng đồng kiến thức về tâm lý học lâm sàng, sức khỏe tâm lý, rối loạn tâm lý cũng như những phương pháp điều trị hiện có. Nội dung được trình bày một cách dễ hiểu và dễ tiếp cận nhất. Ngoài ra, Beautiful Mind Vietnam cung cấp tham vấn miễn phí và tổ chức các buổi workshops với kiến thức về những vấn đề thường gặp liên quan tới sức khỏe tâm lý hàng ngày”.

🍊🍊🍊

#Thông_tin_sách:
Tâm lý học trong nháy mắt 4 – Tâm lý học dị thường.
Tác giả: Beautiful Mind Vietnam & EzPsychology
Dự kiến phát hành: 20/6/2017.
Giá: 108.000đ (dự kiến)
Link đặt: http://www.trithuctrebooks.com/chi-tiet/95.html

1

Thuốc Chống Trầm Cảm Và Những Điều Cần Biết

Không chỉ cần thời gian để chẩn đoán đúng trầm cảm, tìm ra loại thuốc thích hợp để chữa trị bệnh cũng là một quá trình phức tạp không kém. Có người có những vấn đề y tế nghiêm trọng khác như các bệnh về tim, phổi hay thận làm cho thuốc chống trầm cảm trở nên nguy hiểm khi dùng. Thuốc chống trầm cảm có thể không hiệu quả với bạn hay liều lượng không đúng, hoặc chưa đủ thời gian để thấy được tác dụng của thuốc, hay những tác dụng phụ quá mức chịu đựng, dẫn đến việc điều trị thất bại.

Nếu bạn dùng thuốc chống trầm cảm để điều trị rối loạn trầm cảm thì bạn cần nên nhớ những điều sau:

  1. Khoảng 30% người mắc trầm cảm thuyên giảm hoàn toàn sau lần đầu dùng thuốc chống trầm cảm, dựa trên một nghiên cứu năm 2006 được tài trợ bởi Viện sức khỏe quốc gia. Những người thuyên giảm nhanh thường dùng liều thuốc cao hơn trong khoảng thời gian dài so với những người khác.
  2. Một số loại thuốc chống trầm cảm có hiệu quả tốt hơn với một số người. Việc thử dùng nhiều loại thuốc điều trị trầm cảm khác nhau trong chữa trị không phải là điều kỳ lạ.
  3. Có nhiều người cần nhiều hơn một loại thuốc để chữa trị trầm cảm.
  4. Thuốc chống trầm cảm có cảnh báo trên hộp về việc tăng nguy cơ, suy nghĩ và hành vi tự tử ở trẻ em, thiếu niên và thanh niên trong độ tuổi 18-24t.

Continue reading

0

Rối Loạn Tâm Lý và Phạm Tội

Trên các các bộ phim truyền hình hay điện ảnh có liên quan đến chủ đề tội phạm và tâm lý thì hầu như nhân vật tội phạm đều mắc một dạng rối loạn tâm lý nào đó khiến cho hắn ta phạm tội, điển hình như một số tập trong bộ phim truyền hình Criminal Minds hay gần đây nhất là bộ phim Split – Tách Ly. Những mô tả này mặc dù có thể đúng về bản chất rối loạn tâm lý như triệu chứng và một vài khía cạnh nguyên nhân như gia đình, xã hội, nhưng đồng thời nó cũng dễ khiến những người không có kiến thức về tâm lý học, đặc biệt là tâm lý dị thường lầm tưởng rằng những người mắc rối loạn tâm lý là tội phạm, là nguy hiểm, từ đó dẫn đến những định kiến và phân biệt đối xử với những người mắc rối loạn tâm lý và càng khiến cho họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ và điều trị.

Trên báo chí, khi một tội ác nào đó do ai đó mắc rối loạn tâm lý làm ra thì những bài viết này đều được giật tít, chiếm một khoảng lớn trang nhất với những hình ảnh giật gân, khiến cho những tin tức này in dấu trong đầu chúng ta lâu hơn. Nhưng thực tế là phần lớn những người mắc rối loạn tâm lý không phải tội phạm, không bạo lực và không nguy hiểm. Họ là những con người bình thường, đều thức dậy mỗi ngày, đều đi làm, đều ăn uống – như chúng ta.

Trong một nghiên cứu về những tội thực hiện bởi người mắc rối loạn tâm lý nặng, chỉ có khoảng 7.5% có liên quan trực tiếp tới các triệu chứng rối loạn tâm lý. Trong 429 tội của 143 tội phạm với ba dạng rối loạn tâm lý quan trọng thì các nhà nghiên cứu tìm thấy 3% trong số đó liên quan trực tiếp đến triệu chứng trầm cảm, 4% liên quan tới tâm thần phân liệt và 10% liên quan tới rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Đồng thời, nghiên cứu cũng không tìm thấy xu hướng dự đoán liên kết hành vi phạm tội với triệu chứng rối loạn tâm lý.  Thế nhưng có khoảng gần 40% các tin tức liên kết các rối loạn tâm lý với các hành vi bạo lực tổn thương tới người khác. Theo ban phục vụ sức khỏe và con người ở Mỹ (U.S Dept. of Health and Human Services), những người mắc các dạng rối loạn tâm lý nặng thường là nạn nhân của các tội ác bạo lực gấp 10 lần hơn những người khác.

Những cuộc khảo sát cộng đồng cho thấy phần lớn người dân Mỹ cho rằng những người mắc rối loạn tâm lý là nguy hiểm. Các bộ luật đã được thông qua làm giảm đi quyền công dân của những người được chẩn đoán mắc rối loạn tâm lý. Ý kiến chung rất rõ ràng – những người mắc rối loạn tâm lý là mối đe dọa tới sự an toàn cộng đồng và cần được xử lý.

Chúng ta có thể kết luận rằng một số dạng người với rối loạn tâm lý thường vi phạm pháp luật hơn những người khác. Tuy nhiên mối liên quan này thường dựa vào một số dạng rối loạn tâm lý và không phải tất cả các triệu chứng đều biểu hiện giống nhau. Do đó, quan niệm và việc sử dụng cụm từ “rối loạn tâm lý” chung chung gây ra vấn đề lớn. Có rất nhiều dạng rối loạn tâm lý, một số loại làm tăng nguy cơ bạo lực và các hành vi chống đối xã hội, một số loại lại không.

Quan trong hơn cả, các yếu tố nguy cơ làm tăng các hành vi phạm tội ảnh hưởng đến những người mắc rối loạn tâm lý tương tự như những người khác. Ví dụ như tự chủ thấp hay sinh sống ở môi trường không tốt. Thực tế, những yếu tố nguy cơ này có liên quan mật thiết đến các hành vi phạm tội hơn là các dạng rối loạn tâm lý. Rối loạn tâm lý không phải là nguyên nhân cần thiết hay đầy đủ gây nên tội ác. Những nguyên nhân quyết định bạo lực vẫn tiếp tục là xã hội – nhân khẩu học, xã hội – kinh tế và địa vị xã hội – kinh tế thấp.

Dịch và Viết: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Tham Khảo:

http://www.apa.org/news/press/releases/2014/04/mental-illness-crime.aspx

http://time.com/4358295/violent-crimes-mental-illness/

https://www.researchgate.net/profile/Matt_Vogel/publication/261330367_Mental_Illness_and_Criminal_Behavior/links/568fed1b08aed0aed810c4a8.pdf

 

7

Một Vài Điều Về Trầm Cảm

Một trong những điểm yếu của DSM mà rất may là DSM-5 đã chỉnh sửa phần nào, chính là việc nó phân loại các rối loạn tâm lý vào danh mục (category), chẩn đoán dựa vào việc liệu bạn có những triệu chứng rối loạn không, mà không dựa vào các khía cạnh (dimensional) và độ nặng nhẹ của triệu chứng (severity). Việc phân loại như thế dễ gây ra xảy ra việc chẩn đoán sót các ca rối loạn tâm lý nhẹ, hoặc gây ra các hiểu lầm như người mắc rối loạn tâm lý phải có bao nhiêu đây triệu chứng, hoặc đóng khung một dạng rối loạn nào đó dẫn đến các nhận thức sai lệch về rối loạn tâm lý mà điển hình nhất là trầm cảm.

Các nhận thức sai lầm thường thấy nhất về trầm cảm đó chính là người mắc trầm cảm không nỗ lực, hay trầm cảm là hệ quả từ thái độ/lối sống không tích cực, họ không muốn được giúp đỡ, hoặc tất cả chỉ là do họ tưởng tượng ra, hoặc người mắc trầm cảm phải giống như thế này…

Sự hợp tác của bệnh nhân với bác sĩ là một phần quan trọng trong điều trị và theo những gì mình quan sát được khi thực tập ở các phòng khám, thì phần lớn những người mắc rối loạn tâm lý là một trong những người nỗ lực, hợp tác với bác sĩ nhất. Họ luôn cân nhắc hỏi bác sĩ khi có vấn đề với thuốc, uống đúng giờ đúng liều, luôn làm hẹn mỗi khi thuốc gần hết để quyết định xem nên dừng hay nên uống tiếp, tập thể dục để cải thiện sức khoẻ. Nhưng có những trường hợp như cơ thể người bệnh không cho phép những hoạt động nhẹ nhàng nhất như đi bộ vì đầu gối chấn thương, hay trường hợp họ không may mắc phải dạng rối loạn tâm lý không phản ứng với thuốc nên phải không ngừng tìm kiếm những phương pháp chữa trị khác. Thế nên nói những người như họ không nỗ lực, hay không biết phấn đấu thay đổi cuộc sống là những lời nói thiển cận, ác độc nhất với mình.

Trong bài diễn thuyết ở TedX, giáo sư Andrew Solomon, một nhà văn, nhà báo từng đoạt nhiều giải thưởng và hiện đang giảng dạy về tâm lý học lâm sàng ở trường đại học Columbia, Mỹ đã kể về một ca bệnh mà ông ấn tượng nhất. Một người đàn ông trung niên mắc rối loạn trầm cảm hàng năng trời và không phản ứng với bất kỳ loại thuốc chống trầm cảm nào, và ông phải đi sốc điện mỗi tháng. Tuần đầu sau khi sốc điện rất tệ, nhưng ông khá hơn vào tuần sau để rồi tuần tới lại rơi vào cơn trầm cảm tồi tệ và tuần sau đó nữa ông lại đi sốc điện tiếp. Ông nói với Andrew Solomon rằng, “Tôi thật không thể chịu đựng nổi khi phải trải qua những tuần như thế này, và tôi đã quyết định rằng tôi sẽ chấm dứt tất cả nếu như tôi không cảm thấy khá hơn. Nhưng, tôi nghe ở Mass General có cuộc giải phẫu não và tôi nghĩ rằng mình nên thử xem như thế nào.” Thời điểm đó Andrew cảm thấy rất ngạc nhiên rằng một người đã trải qua nhiều trải nghiệm tồi tệ như thế với đủ loại chữa trị vẫn cất giữ một chút lạc quan và hy vọng bên trong để thử thêm một lần nữa. Và may mắn làm sao, đợt phẫu thuật ấy đã thành công. Ông kiếm được việc làm, có thể tự chăm sóc bản thân. Khoa học chứng minh những người có chỉ số loạn thần và lối suy nghĩ nghiền ngẫm quá mức (rumination), hoặc tiêu cực dễ mắc các dạng rối loạn cảm xúc. Tuy nhiên, với bản thân mình thì họ cũng là những con người can đảm và tích cực ngay cả khi hoàn cảnh hay trải nghiệm của họ không như thế.

Một nhận thức sai lầm khác là trầm cảm chỉ có ở người lớn và người giàu có. Có không ít trường hợp những đứa trẻ mới tầm độ tuổi 8-9 mắc rối loạn trầm cảm không phản ứng với thuốc nên dùng sốc điện để chữa trị. Và người nghèo có nguy cơ mắc các dạng rối loạn tâm lý cao hơn những người có tài chính địa vị trong xã hội. Mà một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là người nghèo không có khả năng chi trả phí điều trị, hay không đủ kiến thức để biết được những gì họ đang trải qua là một dạng rối loạn tâm lý. Mỗi tuần mình đi thực tập một ngày ở phòng khám miễn phí dành cho người nghèo và người không có bảo hiểm ở Mỹ, và trong những ngày đó mình quan sát thấy được khoảng từ 3-5 trên tổng số 15 bệnh nhân trong ngày đến khám và xin thuốc để điều trị rối loạn tâm lý. Có những khi phòng khám không còn thuốc để cung cấp miễn phí và đành phải kê đơn để họ mua ở nhà thuốc thì họ cố gắng tiết kiệm đến mức cắt nửa viên thuốc ra uống hoặc uống khi cần kíp, mặc dù biết rằng giảm liều như thế có thể ảnh hưởng đến quá trình hồi phục.

Chúng ta cũng thường bỏ quên những người mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao. Bề ngoài, họ có thể luôn vui vẻ, hoàn thành công việc của mình, luôn giúp đỡ người khác, luôn đứng đầu trong các hoạt động, khiến những người xung quanh khó mà nhận ra họ đang vật lộn với những suy nghĩ tiêu cực bên trong. Họ trải nghiệm cuộc sống cứng nhắc như một robot, không thể hưởng thụ niềm vui, cũng như không có mục tiêu gì cả. Họ có thể không cảm thấy đau đớn, buồn bã khó chịu. Nhưng nếu phải miêu tả cảm xúc của họ thì đó là tê dại.

Một người bạn mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao đã nói với mình như thế này, “Đầu tiên, tôi từ bỏ việc tìm kiếm thấu hiểu từ gia đình. Sau đó, tôi từ bỏ việc hòa nhập với bạn bè trong lớp. Rồi đến những bạn bè cùng sở thích. Và nhóm bạn “thân”, cùng những cá thể “đặc biệt quan trọng”. Tôi từ bỏ việc thấu hiểu nhân loại cũng như tìm kiếm đồng cảm từ nhân loại. Hằng ngày tôi vẫn đều đặn đi học, và hiện tại thì vẫn đều đặn đi làm. Tôi vẫn chơi game, vẫn vẽ, vẫn viết, vẫn đi cafe hay xem phim ảnh. Nhưng sau mỗi sự buông bỏ kia, cảm giác trống rỗng trong lòng tôi tăng dần lên. Tôi hay nói ở vị trí tim mình là một hố đen sâu hoắm, và khó thở.

Từ năm cấp ba, tôi đã mắc chứng nghiện nhổ tóc, tận giờ vẫn chưa khỏi. Một điều buồn cười là dù biết rằng mình chẳng có lỗi gì khi mắc chứng này, thế nhưng tôi vẫn luôn thấy trong lời nói của người khác có sự trách móc rằng tôi không đủ ý chí kiểm soát cơ thể mình, tư duy ngu ngốc và kỳ quái. Hoặc cũng có đôi khi họ vô tình nói đúng vấn đề, rằng “mày bị thần kinh sao mà nhổ tóc hoài vậy?”. Bởi thế mà tuy hiện tại tôi đã ngừng tự trách cũng như có ý thức giảm bớt hành vi của mình, nhưng tôi vẫn luôn né tránh bàn luận trực tiếp chủ đề đó với những người “bình thường” khác.

Trầm cảm giống như bất kỳ chứng bệnh thể lý nào, ai cũng có khả năng mắc phải và nó không chừa một ai cả.  Trầm cảm không nhất thiết phải biểu lộ ra hết tất cả những triệu chứng có trong DSM, và các triệu chứng biểu hiện khác nhau tùy theo mỗi người. Và điều mà chúng ta nên làm là không nên đóng khung biểu hiện bệnh lý hay tự chẩn đoán và nếu người thân chúng ta nghĩ rằng họ có thể mắc một dạng rối loạn tâm lý nào đấy thì nên hỗ trợ họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ các chuyên gia càng sớm càng tốt hơn là chối bỏ vấn đề của họ.

Mình muốn kết bài bằng một câu nói mà mình đọc được khi lang thang trên mạng tìm kiếm tư liệu để viết bài, “Không thiếu những lúc chúng ta được nhắc nhở rằng rối loạn tâm lý không phân biệt một ai cả, nhưng rồi chúng ta lại quay trở về với suy nghĩ thiển cận rằng rối loạn tâm lý nên biểu hiện như thế nào. Và điều đó rất là nguy hiểm.”

-Nguyệt-

6

Tâm Lý Học: Ảo Giác Về Quyền Điều Khiển

Ảo giác về quyền điều khiển (Illusion of control)  là khuynh hướng một người đánh giá quá cao khả năng anh ta điều khiển được các tình huống, sự kiện. Ví dụ, hiện tượng này xảy ra khi anh ta cảm giác được quyền điều khiển đối với kết quả của một sự kiện mà rõ ràng là anh ta không có sức ảnh hưởng gì. Hiệu ứng này được đặt tên bởi nhà tâm lý học Ellen Langer và được cho rằng có ảnh hưởng đến các hành vi cờ bạc và niềm tin về những điều siêu nhiên.

Ảo giác về quyền điều khiển rất thường xảy ra ngay cả trong tình huống ngẫu nhiên nhất. Và đặc biệt, nó thường xảy ra trong những hoàn cảnh có liên quan đến cá nhân, sự tương đồng, biết trước kết quả mong muốn, và sự tập trung về thành công. Khi một tình huống hoàn toàn ngẫu nhiên có những dấu hiệu vừa liệt kê xảy ra thì người ta cư xử, hành động như thể kết quả của tình huống ấy được quyết định bởi họ, hay nói chính xác hơn là những kỹ năng của họ. Những yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến hiệu ứng này bao gồm trạng thái, khí sắc trầm uất và nhu cầu về quyền không chế. Tức là ảo giác về quyền điều khiển sẽ thấp và yếu với những người bị trầm cảm hoặc đang trong trạng thái trầm uất. Họ thường nghĩ mình sẽ không thay đổi được gì và mọi chuyện sẽ không bao giờ khá lên được. Những người trầm uất và người không trầm uất khác nhau ở khả năng họ xác nhận sự thiếu hụt quyền điều khiển. Với những người không trầm cảm, họ phô bày ảo giác về quyền điều khiển khi đánh giá mức độ điều khiển mà họ có được với một sự kiện mà hậu quả rõ ràng là không nằm trong quyền điều khiển của họ. Còn với những người trầm cảm thì họ có nhận thức chính xác hơn về sự khuyết thiếu quyền điều khiển của mình. Điều này thường được coi là thiếu hụt động lực (hoặc ngược lại, thiếu nhạy cảm về quyền điều khiển nằm trong những chuỗi nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm).  Ngược lại, ảo giác về quyền điều khiển sẽ mạnh đối với những người có nhu cầu và cảm giác cần thiết để khống chế. Ảo giác này càng mạnh hơn trong những tình huống áp lực và cạnh tranh bao gồm các vấn đề liên quan đến trao đổi kinh tế.

strings

Nguồn: advisoranalyst

Trong những nghiên cứu khá thú vị về hiệu ứng này, Langer chứng minh rằng người ta thường đánh giá cao quyền điều khiển của mình trong những tình huống đơn thuần ngẫu nhiên. Ví dụ, trong một thí nghiệm, một số người được quyền lựa chọn vé sổ xố cho mình, còn một số người thì được phát vé sổ xố. Sau đó, những người tham gia cuộc thí nghiệm được quyền đổi vé số một lần với khả năng trúng giải cao hơn. Mặc cho sự thật rằng nếu đổi vé số thì khả năng trúng số sẽ cao hơn, nhưng những nguời được quyền lựa chọn vé số ban đầu không đổi số. Họ vẫn giữ tấm vé số mà mình chọn ban đầu. Dường như họ nghĩ rằng, tự mình chọn vé số làm tăng khả năng họ trúng giải – như thể hành động lựa chọn vé số của họ cho họ quyền điểu khiển kết quả sổ xố, mà rõ ràng các số được chọn trúng giải chỉ là ngẫu nhiên mà thôi và chẳng có liên quan gì đến chuyện họ là người chọn số, hay là được phát số cho.

Sự lựa chọn được cho là gây ra ảo giác về quyền khống chế. Người ta hành xử như thể họ có quyền điều khiển nhiều hơn nếu họ tự mình thảy xúc xắc hơn là người khác thảy cho họ. Khi người ta trông chờ vào một kết quả nào đó, và kết quả ấy xảy ra như họ mong muốn thì họ thường đánh giá quá cao mức độ ảnh hưởng của mình đối với kết quả ấy, như thể nhờ có mình, hay mình là yếu tố quyết định làm nên kết quả này. Tuy nhiên, mỉa mai thay, trong những tình huống mà người ta hoàn toàn có quyền điều khiển, thì họ lại đánh giá thấp quyền điều khiển của mình.

Vậy thì do đâu chúng ta lại có ảo giác về quyền điều khiển?  Một trong những nguyên do gây nên hiệu ứng này là động lực. Ở phương diện này, sự ước đoán của một người về quyền điều khiển bị  ảnh hưởng bởi những nhu cầu chủ quan có liên quan tới việc gìn giữ và phát huy lòng tự tôn của bản thân. Một trong những nhu cầu đó gọi là nhu cầu được điều khiển đã nhắc ở bên trên. Đã có những chứng minh cho thấy cảm giác nắm quyền điều khiển có liên quan tới sức khỏe. Và nhận thức về việc không thể điều khiển thì có quan hệ mật thiết với những hệ quả tiêu cực tới cảm xúc, nhận thức và cả trầm cảm.

Với tầm quan trọng về việc nhận thức và thật sự có quyền điều khiển, một số nhà nghiên cứu cho rằng ảo giác về quyền điều khiển là một kiểu thành kiến cá nhân nhằm ngăn ngừa một người khỏi những hệ quả tiêu cực từ việc không thể điều khiển như đã nêu trên. Đồng thời, hiệu ứng này cũng cho phép người khác được hưởng lợi và danh vọng từ những tình huống thành công và từ chối trách nhiệm với những sự kiện thất bại. Theo cách này thì khi một  người hành xử để đạt được kết quả như ý phải đối mặt với tình huống có xác suất thành công hay thất bại ngẫu nhiên, thì họ thường coi bản thân mình là yếu tố quyết định sự thành công và thất bại thì không phải lỗi của mình mà chỉ là xui thôi.

Hiệu ứng ảo giác về quyền điều khiển đã và đang được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Có thể thấy rõ hiệu ứng ảo tưởng về quyền điều khiển trong hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân. Đa số những người đổ lỗi cho nạn nhân, nhất là những nạn nhân bị cưỡng bức thường suy nghĩ, “nếu là mình thì chuyện này sẽ chẳng bao giờ xảy ra”, mà không nhận ra rằng chuyện bất hạnh có thể xảy ra với bất kỳ ai. Trích từ một bài viết cũ của mình,

Một trong những lý do khiến mọi người đổ lỗi cho nạn nhân là để cách ly họ ra khỏi những tình huống tiêu cực này và tự nhủ rằng họ sẽ không dễ gì gặp chuyện nguy hiểm như vậy. Bằng việc dán nhãn, hay đổ lỗi cho nạn nhân, người khác sẽ nhìn nạn nhân khác hẳn với họ. Mọi người tự trấn an với bản thân bằng cách suy nghĩ, “Bởi vì mình không giống như cô ta, bởi vì mình không làm như thế, cho nên chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra với mình.”

Nghiên cứu được thực hiện bởi tiến sĩ Ronnie Janoff- Bulman đề xuất ý kiến rằng đôi lúc ngay cả nạn nhân cũng tự hạ thấp bản thân họ, rằng chính những hành vi của bản thân là nguyên nhân dẫn đến sự đau đớn, bất hạnh mà họ gặp phải, chứ không phải là tính cách thường ngày của họ, để cho những sự kiện tiêu cực trông có vẻ như có thể điều khiển được, và do đó, có thể tránh được trong tương lai.

Lerner giả thuyết rằng gốc rễ của xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nằm ở niềm tin trong một thế giới, cái thế giới mà mỗi hành động đều đoán trước được những hậu quả đi kèm, và con người có thể điều khiển được những gì xảy ra với họ. Nó nằm cả trong những câu tục ngữ, câu nói thông thường như “Gieo nhân nào, gặt quả ấy”, hay “ Gieo gió ắt gặt bão”. Chúng ta muốn tin rằng công lý sẽ đến với những người làm ác, trong khi người tốt, trung thực, tuân thủ luật pháp sẽ được tưởng thưởng. Nghiên cứu đã tìm ra, không ngạc nhiên gì, với những người tin rằng thế giới là một nơi tốt đẹp thì họ thường hạnh phúc hơn và ít đớn đau. Nhưng niềm hạnh phúc này đều có cái giá của nó, nó có thể làm giảm đi sự thấu cảm của chúng ta với những người gặp bất hạnh, và thậm chí chúng ta có thể làm tăng nỗi đau đớn ấy thêm bằng việc chỉ trích.

Những nghiên cứu gần đây chỉ ra những người mắc trầm cảm thường có đánh giá chính xác hơn về sức điều khiển của họ với tình huống hơn người không mắc trầm cảm. Hiện tượng này được gọi là chủ nghĩa hiện thực trầm cảm (depressive realism) và có thể được phân tích như sự khuyết thiếu động lực của người mắc trầm cảm khi không dùng cơ chế tự phục vụ bản thân (self-service) dẫn đến ảo giác về quyền điều khiển.

Quá ảo tưởng về quyền điều khiển sẽ che mờ mắt và khiến chúng ta trở nên vô cảm, khuyết thiếu hiệu ứng này lại khiến chúng ta mất đi động lực và lâu dài lại trở nên trầm cảm. Từ khóa ở đây là cân bằng. Rất khó để biết đâu là điểm cân bằng. Vì thế trước khi chỉ trích thì nên ngẫm nghĩ rằng, thật sự mình có thể làm tốt hơn thế trong hoàn cảnh của họ hay không, trước khi tự trách thì nên đắn đó, liệu mình có thể làm gì để thay đổi, đồng thời nhận ra rằng có những thứ mình không thể điều khiển được.

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims

 

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims