1

Thuốc Chống Trầm Cảm Và Những Điều Cần Biết

Không chỉ cần thời gian để chẩn đoán đúng trầm cảm, tìm ra loại thuốc thích hợp để chữa trị bệnh cũng là một quá trình phức tạp không kém. Có người có những vấn đề y tế nghiêm trọng khác như các bệnh về tim, phổi hay thận làm cho thuốc chống trầm cảm trở nên nguy hiểm khi dùng. Thuốc chống trầm cảm có thể không hiệu quả với bạn hay liều lượng không đúng, hoặc chưa đủ thời gian để thấy được tác dụng của thuốc, hay những tác dụng phụ quá mức chịu đựng, dẫn đến việc điều trị thất bại.

Nếu bạn dùng thuốc chống trầm cảm để điều trị rối loạn trầm cảm thì bạn cần nên nhớ những điều sau:

  1. Khoảng 30% người mắc trầm cảm thuyên giảm hoàn toàn sau lần đầu dùng thuốc chống trầm cảm, dựa trên một nghiên cứu năm 2006 được tài trợ bởi Viện sức khỏe quốc gia. Những người thuyên giảm nhanh thường dùng liều thuốc cao hơn trong khoảng thời gian dài so với những người khác.
  2. Một số loại thuốc chống trầm cảm có hiệu quả tốt hơn với một số người. Việc thử dùng nhiều loại thuốc điều trị trầm cảm khác nhau trong chữa trị không phải là điều kỳ lạ.
  3. Có nhiều người cần nhiều hơn một loại thuốc để chữa trị trầm cảm.
  4. Thuốc chống trầm cảm có cảnh báo trên hộp về việc tăng nguy cơ, suy nghĩ và hành vi tự tử ở trẻ em, thiếu niên và thanh niên trong độ tuổi 18-24t.

Continue reading

0

Rối Loạn Tâm Lý và Phạm Tội

Trên các các bộ phim truyền hình hay điện ảnh có liên quan đến chủ đề tội phạm và tâm lý thì hầu như nhân vật tội phạm đều mắc một dạng rối loạn tâm lý nào đó khiến cho hắn ta phạm tội, điển hình như một số tập trong bộ phim truyền hình Criminal Minds hay gần đây nhất là bộ phim Split – Tách Ly. Những mô tả này mặc dù có thể đúng về bản chất rối loạn tâm lý như triệu chứng và một vài khía cạnh nguyên nhân như gia đình, xã hội, nhưng đồng thời nó cũng dễ khiến những người không có kiến thức về tâm lý học, đặc biệt là tâm lý dị thường lầm tưởng rằng những người mắc rối loạn tâm lý là tội phạm, là nguy hiểm, từ đó dẫn đến những định kiến và phân biệt đối xử với những người mắc rối loạn tâm lý và càng khiến cho họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ và điều trị.

Trên báo chí, khi một tội ác nào đó do ai đó mắc rối loạn tâm lý làm ra thì những bài viết này đều được giật tít, chiếm một khoảng lớn trang nhất với những hình ảnh giật gân, khiến cho những tin tức này in dấu trong đầu chúng ta lâu hơn. Nhưng thực tế là phần lớn những người mắc rối loạn tâm lý không phải tội phạm, không bạo lực và không nguy hiểm. Họ là những con người bình thường, đều thức dậy mỗi ngày, đều đi làm, đều ăn uống – như chúng ta.

Trong một nghiên cứu về những tội thực hiện bởi người mắc rối loạn tâm lý nặng, chỉ có khoảng 7.5% có liên quan trực tiếp tới các triệu chứng rối loạn tâm lý. Trong 429 tội của 143 tội phạm với ba dạng rối loạn tâm lý quan trọng thì các nhà nghiên cứu tìm thấy 3% trong số đó liên quan trực tiếp đến triệu chứng trầm cảm, 4% liên quan tới tâm thần phân liệt và 10% liên quan tới rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Đồng thời, nghiên cứu cũng không tìm thấy xu hướng dự đoán liên kết hành vi phạm tội với triệu chứng rối loạn tâm lý.  Thế nhưng có khoảng gần 40% các tin tức liên kết các rối loạn tâm lý với các hành vi bạo lực tổn thương tới người khác. Theo ban phục vụ sức khỏe và con người ở Mỹ (U.S Dept. of Health and Human Services), những người mắc các dạng rối loạn tâm lý nặng thường là nạn nhân của các tội ác bạo lực gấp 10 lần hơn những người khác.

Những cuộc khảo sát cộng đồng cho thấy phần lớn người dân Mỹ cho rằng những người mắc rối loạn tâm lý là nguy hiểm. Các bộ luật đã được thông qua làm giảm đi quyền công dân của những người được chẩn đoán mắc rối loạn tâm lý. Ý kiến chung rất rõ ràng – những người mắc rối loạn tâm lý là mối đe dọa tới sự an toàn cộng đồng và cần được xử lý.

Chúng ta có thể kết luận rằng một số dạng người với rối loạn tâm lý thường vi phạm pháp luật hơn những người khác. Tuy nhiên mối liên quan này thường dựa vào một số dạng rối loạn tâm lý và không phải tất cả các triệu chứng đều biểu hiện giống nhau. Do đó, quan niệm và việc sử dụng cụm từ “rối loạn tâm lý” chung chung gây ra vấn đề lớn. Có rất nhiều dạng rối loạn tâm lý, một số loại làm tăng nguy cơ bạo lực và các hành vi chống đối xã hội, một số loại lại không.

Quan trong hơn cả, các yếu tố nguy cơ làm tăng các hành vi phạm tội ảnh hưởng đến những người mắc rối loạn tâm lý tương tự như những người khác. Ví dụ như tự chủ thấp hay sinh sống ở môi trường không tốt. Thực tế, những yếu tố nguy cơ này có liên quan mật thiết đến các hành vi phạm tội hơn là các dạng rối loạn tâm lý. Rối loạn tâm lý không phải là nguyên nhân cần thiết hay đầy đủ gây nên tội ác. Những nguyên nhân quyết định bạo lực vẫn tiếp tục là xã hội – nhân khẩu học, xã hội – kinh tế và địa vị xã hội – kinh tế thấp.

Dịch và Viết: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Tham Khảo:

http://www.apa.org/news/press/releases/2014/04/mental-illness-crime.aspx

http://time.com/4358295/violent-crimes-mental-illness/

https://www.researchgate.net/profile/Matt_Vogel/publication/261330367_Mental_Illness_and_Criminal_Behavior/links/568fed1b08aed0aed810c4a8.pdf

 

7

Một Vài Điều Về Trầm Cảm

Một trong những điểm yếu của DSM mà rất may là DSM-5 đã chỉnh sửa phần nào, chính là việc nó phân loại các rối loạn tâm lý vào danh mục (category), chẩn đoán dựa vào việc liệu bạn có những triệu chứng rối loạn không, mà không dựa vào các khía cạnh (dimensional) và độ nặng nhẹ của triệu chứng (severity). Việc phân loại như thế dễ gây ra xảy ra việc chẩn đoán sót các ca rối loạn tâm lý nhẹ, hoặc gây ra các hiểu lầm như người mắc rối loạn tâm lý phải có bao nhiêu đây triệu chứng, hoặc đóng khung một dạng rối loạn nào đó dẫn đến các nhận thức sai lệch về rối loạn tâm lý mà điển hình nhất là trầm cảm.

Các nhận thức sai lầm thường thấy nhất về trầm cảm đó chính là người mắc trầm cảm không nỗ lực, hay trầm cảm là hệ quả từ thái độ/lối sống không tích cực, họ không muốn được giúp đỡ, hoặc tất cả chỉ là do họ tưởng tượng ra, hoặc người mắc trầm cảm phải giống như thế này…

Sự hợp tác của bệnh nhân với bác sĩ là một phần quan trọng trong điều trị và theo những gì mình quan sát được khi thực tập ở các phòng khám, thì phần lớn những người mắc rối loạn tâm lý là một trong những người nỗ lực, hợp tác với bác sĩ nhất. Họ luôn cân nhắc hỏi bác sĩ khi có vấn đề với thuốc, uống đúng giờ đúng liều, luôn làm hẹn mỗi khi thuốc gần hết để quyết định xem nên dừng hay nên uống tiếp, tập thể dục để cải thiện sức khoẻ. Nhưng có những trường hợp như cơ thể người bệnh không cho phép những hoạt động nhẹ nhàng nhất như đi bộ vì đầu gối chấn thương, hay trường hợp họ không may mắc phải dạng rối loạn tâm lý không phản ứng với thuốc nên phải không ngừng tìm kiếm những phương pháp chữa trị khác. Thế nên nói những người như họ không nỗ lực, hay không biết phấn đấu thay đổi cuộc sống là những lời nói thiển cận, ác độc nhất với mình.

Trong bài diễn thuyết ở TedX, giáo sư Andrew Solomon, một nhà văn, nhà báo từng đoạt nhiều giải thưởng và hiện đang giảng dạy về tâm lý học lâm sàng ở trường đại học Columbia, Mỹ đã kể về một ca bệnh mà ông ấn tượng nhất. Một người đàn ông trung niên mắc rối loạn trầm cảm hàng năng trời và không phản ứng với bất kỳ loại thuốc chống trầm cảm nào, và ông phải đi sốc điện mỗi tháng. Tuần đầu sau khi sốc điện rất tệ, nhưng ông khá hơn vào tuần sau để rồi tuần tới lại rơi vào cơn trầm cảm tồi tệ và tuần sau đó nữa ông lại đi sốc điện tiếp. Ông nói với Andrew Solomon rằng, “Tôi thật không thể chịu đựng nổi khi phải trải qua những tuần như thế này, và tôi đã quyết định rằng tôi sẽ chấm dứt tất cả nếu như tôi không cảm thấy khá hơn. Nhưng, tôi nghe ở Mass General có cuộc giải phẫu não và tôi nghĩ rằng mình nên thử xem như thế nào.” Thời điểm đó Andrew cảm thấy rất ngạc nhiên rằng một người đã trải qua nhiều trải nghiệm tồi tệ như thế với đủ loại chữa trị vẫn cất giữ một chút lạc quan và hy vọng bên trong để thử thêm một lần nữa. Và may mắn làm sao, đợt phẫu thuật ấy đã thành công. Ông kiếm được việc làm, có thể tự chăm sóc bản thân. Khoa học chứng minh những người có chỉ số loạn thần và lối suy nghĩ nghiền ngẫm quá mức (rumination), hoặc tiêu cực dễ mắc các dạng rối loạn cảm xúc. Tuy nhiên, với bản thân mình thì họ cũng là những con người can đảm và tích cực ngay cả khi hoàn cảnh hay trải nghiệm của họ không như thế.

Một nhận thức sai lầm khác là trầm cảm chỉ có ở người lớn và người giàu có. Có không ít trường hợp những đứa trẻ mới tầm độ tuổi 8-9 mắc rối loạn trầm cảm không phản ứng với thuốc nên dùng sốc điện để chữa trị. Và người nghèo có nguy cơ mắc các dạng rối loạn tâm lý cao hơn những người có tài chính địa vị trong xã hội. Mà một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là người nghèo không có khả năng chi trả phí điều trị, hay không đủ kiến thức để biết được những gì họ đang trải qua là một dạng rối loạn tâm lý. Mỗi tuần mình đi thực tập một ngày ở phòng khám miễn phí dành cho người nghèo và người không có bảo hiểm ở Mỹ, và trong những ngày đó mình quan sát thấy được khoảng từ 3-5 trên tổng số 15 bệnh nhân trong ngày đến khám và xin thuốc để điều trị rối loạn tâm lý. Có những khi phòng khám không còn thuốc để cung cấp miễn phí và đành phải kê đơn để họ mua ở nhà thuốc thì họ cố gắng tiết kiệm đến mức cắt nửa viên thuốc ra uống hoặc uống khi cần kíp, mặc dù biết rằng giảm liều như thế có thể ảnh hưởng đến quá trình hồi phục.

Chúng ta cũng thường bỏ quên những người mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao. Bề ngoài, họ có thể luôn vui vẻ, hoàn thành công việc của mình, luôn giúp đỡ người khác, luôn đứng đầu trong các hoạt động, khiến những người xung quanh khó mà nhận ra họ đang vật lộn với những suy nghĩ tiêu cực bên trong. Họ trải nghiệm cuộc sống cứng nhắc như một robot, không thể hưởng thụ niềm vui, cũng như không có mục tiêu gì cả. Họ có thể không cảm thấy đau đớn, buồn bã khó chịu. Nhưng nếu phải miêu tả cảm xúc của họ thì đó là tê dại.

Một người bạn mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao đã nói với mình như thế này, “Đầu tiên, tôi từ bỏ việc tìm kiếm thấu hiểu từ gia đình. Sau đó, tôi từ bỏ việc hòa nhập với bạn bè trong lớp. Rồi đến những bạn bè cùng sở thích. Và nhóm bạn “thân”, cùng những cá thể “đặc biệt quan trọng”. Tôi từ bỏ việc thấu hiểu nhân loại cũng như tìm kiếm đồng cảm từ nhân loại. Hằng ngày tôi vẫn đều đặn đi học, và hiện tại thì vẫn đều đặn đi làm. Tôi vẫn chơi game, vẫn vẽ, vẫn viết, vẫn đi cafe hay xem phim ảnh. Nhưng sau mỗi sự buông bỏ kia, cảm giác trống rỗng trong lòng tôi tăng dần lên. Tôi hay nói ở vị trí tim mình là một hố đen sâu hoắm, và khó thở.

Từ năm cấp ba, tôi đã mắc chứng nghiện nhổ tóc, tận giờ vẫn chưa khỏi. Một điều buồn cười là dù biết rằng mình chẳng có lỗi gì khi mắc chứng này, thế nhưng tôi vẫn luôn thấy trong lời nói của người khác có sự trách móc rằng tôi không đủ ý chí kiểm soát cơ thể mình, tư duy ngu ngốc và kỳ quái. Hoặc cũng có đôi khi họ vô tình nói đúng vấn đề, rằng “mày bị thần kinh sao mà nhổ tóc hoài vậy?”. Bởi thế mà tuy hiện tại tôi đã ngừng tự trách cũng như có ý thức giảm bớt hành vi của mình, nhưng tôi vẫn luôn né tránh bàn luận trực tiếp chủ đề đó với những người “bình thường” khác.

Trầm cảm giống như bất kỳ chứng bệnh thể lý nào, ai cũng có khả năng mắc phải và nó không chừa một ai cả.  Trầm cảm không nhất thiết phải biểu lộ ra hết tất cả những triệu chứng có trong DSM, và các triệu chứng biểu hiện khác nhau tùy theo mỗi người. Và điều mà chúng ta nên làm là không nên đóng khung biểu hiện bệnh lý hay tự chẩn đoán và nếu người thân chúng ta nghĩ rằng họ có thể mắc một dạng rối loạn tâm lý nào đấy thì nên hỗ trợ họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ các chuyên gia càng sớm càng tốt hơn là chối bỏ vấn đề của họ.

Mình muốn kết bài bằng một câu nói mà mình đọc được khi lang thang trên mạng tìm kiếm tư liệu để viết bài, “Không thiếu những lúc chúng ta được nhắc nhở rằng rối loạn tâm lý không phân biệt một ai cả, nhưng rồi chúng ta lại quay trở về với suy nghĩ thiển cận rằng rối loạn tâm lý nên biểu hiện như thế nào. Và điều đó rất là nguy hiểm.”

-Nguyệt-

6

Tâm Lý Học: Ảo Giác Về Quyền Điều Khiển

Ảo giác về quyền điều khiển (Illusion of control)  là khuynh hướng một người đánh giá quá cao khả năng anh ta điều khiển được các tình huống, sự kiện. Ví dụ, hiện tượng này xảy ra khi anh ta cảm giác được quyền điều khiển đối với kết quả của một sự kiện mà rõ ràng là anh ta không có sức ảnh hưởng gì. Hiệu ứng này được đặt tên bởi nhà tâm lý học Ellen Langer và được cho rằng có ảnh hưởng đến các hành vi cờ bạc và niềm tin về những điều siêu nhiên.

Ảo giác về quyền điều khiển rất thường xảy ra ngay cả trong tình huống ngẫu nhiên nhất. Và đặc biệt, nó thường xảy ra trong những hoàn cảnh có liên quan đến cá nhân, sự tương đồng, biết trước kết quả mong muốn, và sự tập trung về thành công. Khi một tình huống hoàn toàn ngẫu nhiên có những dấu hiệu vừa liệt kê xảy ra thì người ta cư xử, hành động như thể kết quả của tình huống ấy được quyết định bởi họ, hay nói chính xác hơn là những kỹ năng của họ. Những yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến hiệu ứng này bao gồm trạng thái, khí sắc trầm uất và nhu cầu về quyền không chế. Tức là ảo giác về quyền điều khiển sẽ thấp và yếu với những người bị trầm cảm hoặc đang trong trạng thái trầm uất. Họ thường nghĩ mình sẽ không thay đổi được gì và mọi chuyện sẽ không bao giờ khá lên được. Những người trầm uất và người không trầm uất khác nhau ở khả năng họ xác nhận sự thiếu hụt quyền điều khiển. Với những người không trầm cảm, họ phô bày ảo giác về quyền điều khiển khi đánh giá mức độ điều khiển mà họ có được với một sự kiện mà hậu quả rõ ràng là không nằm trong quyền điều khiển của họ. Còn với những người trầm cảm thì họ có nhận thức chính xác hơn về sự khuyết thiếu quyền điều khiển của mình. Điều này thường được coi là thiếu hụt động lực (hoặc ngược lại, thiếu nhạy cảm về quyền điều khiển nằm trong những chuỗi nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm).  Ngược lại, ảo giác về quyền điều khiển sẽ mạnh đối với những người có nhu cầu và cảm giác cần thiết để khống chế. Ảo giác này càng mạnh hơn trong những tình huống áp lực và cạnh tranh bao gồm các vấn đề liên quan đến trao đổi kinh tế.

strings

Nguồn: advisoranalyst

Trong những nghiên cứu khá thú vị về hiệu ứng này, Langer chứng minh rằng người ta thường đánh giá cao quyền điều khiển của mình trong những tình huống đơn thuần ngẫu nhiên. Ví dụ, trong một thí nghiệm, một số người được quyền lựa chọn vé sổ xố cho mình, còn một số người thì được phát vé sổ xố. Sau đó, những người tham gia cuộc thí nghiệm được quyền đổi vé số một lần với khả năng trúng giải cao hơn. Mặc cho sự thật rằng nếu đổi vé số thì khả năng trúng số sẽ cao hơn, nhưng những nguời được quyền lựa chọn vé số ban đầu không đổi số. Họ vẫn giữ tấm vé số mà mình chọn ban đầu. Dường như họ nghĩ rằng, tự mình chọn vé số làm tăng khả năng họ trúng giải – như thể hành động lựa chọn vé số của họ cho họ quyền điểu khiển kết quả sổ xố, mà rõ ràng các số được chọn trúng giải chỉ là ngẫu nhiên mà thôi và chẳng có liên quan gì đến chuyện họ là người chọn số, hay là được phát số cho.

Sự lựa chọn được cho là gây ra ảo giác về quyền khống chế. Người ta hành xử như thể họ có quyền điều khiển nhiều hơn nếu họ tự mình thảy xúc xắc hơn là người khác thảy cho họ. Khi người ta trông chờ vào một kết quả nào đó, và kết quả ấy xảy ra như họ mong muốn thì họ thường đánh giá quá cao mức độ ảnh hưởng của mình đối với kết quả ấy, như thể nhờ có mình, hay mình là yếu tố quyết định làm nên kết quả này. Tuy nhiên, mỉa mai thay, trong những tình huống mà người ta hoàn toàn có quyền điều khiển, thì họ lại đánh giá thấp quyền điều khiển của mình.

Vậy thì do đâu chúng ta lại có ảo giác về quyền điều khiển?  Một trong những nguyên do gây nên hiệu ứng này là động lực. Ở phương diện này, sự ước đoán của một người về quyền điều khiển bị  ảnh hưởng bởi những nhu cầu chủ quan có liên quan tới việc gìn giữ và phát huy lòng tự tôn của bản thân. Một trong những nhu cầu đó gọi là nhu cầu được điều khiển đã nhắc ở bên trên. Đã có những chứng minh cho thấy cảm giác nắm quyền điều khiển có liên quan tới sức khỏe. Và nhận thức về việc không thể điều khiển thì có quan hệ mật thiết với những hệ quả tiêu cực tới cảm xúc, nhận thức và cả trầm cảm.

Với tầm quan trọng về việc nhận thức và thật sự có quyền điều khiển, một số nhà nghiên cứu cho rằng ảo giác về quyền điều khiển là một kiểu thành kiến cá nhân nhằm ngăn ngừa một người khỏi những hệ quả tiêu cực từ việc không thể điều khiển như đã nêu trên. Đồng thời, hiệu ứng này cũng cho phép người khác được hưởng lợi và danh vọng từ những tình huống thành công và từ chối trách nhiệm với những sự kiện thất bại. Theo cách này thì khi một  người hành xử để đạt được kết quả như ý phải đối mặt với tình huống có xác suất thành công hay thất bại ngẫu nhiên, thì họ thường coi bản thân mình là yếu tố quyết định sự thành công và thất bại thì không phải lỗi của mình mà chỉ là xui thôi.

Hiệu ứng ảo giác về quyền điều khiển đã và đang được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Có thể thấy rõ hiệu ứng ảo tưởng về quyền điều khiển trong hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân. Đa số những người đổ lỗi cho nạn nhân, nhất là những nạn nhân bị cưỡng bức thường suy nghĩ, “nếu là mình thì chuyện này sẽ chẳng bao giờ xảy ra”, mà không nhận ra rằng chuyện bất hạnh có thể xảy ra với bất kỳ ai. Trích từ một bài viết cũ của mình,

Một trong những lý do khiến mọi người đổ lỗi cho nạn nhân là để cách ly họ ra khỏi những tình huống tiêu cực này và tự nhủ rằng họ sẽ không dễ gì gặp chuyện nguy hiểm như vậy. Bằng việc dán nhãn, hay đổ lỗi cho nạn nhân, người khác sẽ nhìn nạn nhân khác hẳn với họ. Mọi người tự trấn an với bản thân bằng cách suy nghĩ, “Bởi vì mình không giống như cô ta, bởi vì mình không làm như thế, cho nên chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra với mình.”

Nghiên cứu được thực hiện bởi tiến sĩ Ronnie Janoff- Bulman đề xuất ý kiến rằng đôi lúc ngay cả nạn nhân cũng tự hạ thấp bản thân họ, rằng chính những hành vi của bản thân là nguyên nhân dẫn đến sự đau đớn, bất hạnh mà họ gặp phải, chứ không phải là tính cách thường ngày của họ, để cho những sự kiện tiêu cực trông có vẻ như có thể điều khiển được, và do đó, có thể tránh được trong tương lai.

Lerner giả thuyết rằng gốc rễ của xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nằm ở niềm tin trong một thế giới, cái thế giới mà mỗi hành động đều đoán trước được những hậu quả đi kèm, và con người có thể điều khiển được những gì xảy ra với họ. Nó nằm cả trong những câu tục ngữ, câu nói thông thường như “Gieo nhân nào, gặt quả ấy”, hay “ Gieo gió ắt gặt bão”. Chúng ta muốn tin rằng công lý sẽ đến với những người làm ác, trong khi người tốt, trung thực, tuân thủ luật pháp sẽ được tưởng thưởng. Nghiên cứu đã tìm ra, không ngạc nhiên gì, với những người tin rằng thế giới là một nơi tốt đẹp thì họ thường hạnh phúc hơn và ít đớn đau. Nhưng niềm hạnh phúc này đều có cái giá của nó, nó có thể làm giảm đi sự thấu cảm của chúng ta với những người gặp bất hạnh, và thậm chí chúng ta có thể làm tăng nỗi đau đớn ấy thêm bằng việc chỉ trích.

Những nghiên cứu gần đây chỉ ra những người mắc trầm cảm thường có đánh giá chính xác hơn về sức điều khiển của họ với tình huống hơn người không mắc trầm cảm. Hiện tượng này được gọi là chủ nghĩa hiện thực trầm cảm (depressive realism) và có thể được phân tích như sự khuyết thiếu động lực của người mắc trầm cảm khi không dùng cơ chế tự phục vụ bản thân (self-service) dẫn đến ảo giác về quyền điều khiển.

Quá ảo tưởng về quyền điều khiển sẽ che mờ mắt và khiến chúng ta trở nên vô cảm, khuyết thiếu hiệu ứng này lại khiến chúng ta mất đi động lực và lâu dài lại trở nên trầm cảm. Từ khóa ở đây là cân bằng. Rất khó để biết đâu là điểm cân bằng. Vì thế trước khi chỉ trích thì nên ngẫm nghĩ rằng, thật sự mình có thể làm tốt hơn thế trong hoàn cảnh của họ hay không, trước khi tự trách thì nên đắn đó, liệu mình có thể làm gì để thay đổi, đồng thời nhận ra rằng có những thứ mình không thể điều khiển được.

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims

 

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims

1

Lệch Lạc Tình Dục Ái Nhi

Lệch lạc tình dục – Ái nhi

Giới thiệu chung

Ước tính có khoảng 1% nam giới trong dân số nhận ra bản thân bị thu hút bởi những đứa trẻ chưa đến tuổi dậy thì. Những người này đang sống với chứng lệch lạc tình dục ái nhi (Pedophilic Disorder). Theo DSM-5, lệch lạc tình dục ái nhi bao gồm sự tưởng tượng tình dục mạnh mẽ, lặp đi lặp lại, hoặc thôi thúc tình dục, có các hành vi liên quan đến tình dục với trẻ em trước tuổi dậy thì thường là trẻ hơn 13 tuổi, và những ham muốn này gây cản trở tới cuộc sống và các mối quan hệ cá nhân của họ. Tiêu chuẩn chẩn đoán một người mắc lệch lạc tình dục ái nhi là người đó phải ít nhất 16 tuổi, và ít nhất lớn hơn trẻ 5 tuổi.

Ái nhi và ấu dâm đôi lúc được dùng xen kẽ nhau nhưng sự nhầm lẫn này lẫn lộn giữa định nghĩa luật pháp và rối loạn tâm lý. Không phải tất cả những người mắc lệch lạc tình dục ái nhi đều là những kẻ ấu dâm, hoặc ngược lại. Những kẻ ấu dâm là những kẻ đã thực hiện hành vi dâm ô, gây tổn thương đến trẻ, còn những người ấu nhi thì lại xoay quanh những ham muốn và tưởng tượng nhiều hơn. Có người có thể sống với lệch lạc tình dục ái nhi mà chưa bao giờ chạm vào trẻ. Những trang web như Virtuous Pedophiles cung cấp trợ giúp tới những người ái nhi nhưng chưa bao giờ làm ra những hành vi ấu dâm và tin rằng tình dục với trẻ em là sai trái.  Không phải những cá nhân này “không hoạt động” hoặc “không thực hiện” ái nhi, mà hơn thế, ái nhi chỉ về tình trạng chứ không phải là hành động. Thực tế, nghiên cứu chỉ ra có khoảng một nửa tội phạm ấu dâm không có cảm giác hấp dẫn tình dục bởi nạn nhân của chúng.

Một người không thể chọn lựa mình ái nhi, nhưng anh ta có thể chọn không trở thành kẻ ấu dâm. Continue reading

1

[Tâm Lý và Bệnh Chứng]: Rối loạn phân liệt cảm xúc

Lâu lắm rồi mới quay lại phần rối loạn tâm lý nhỉ XD~ Đăng lên mừng ngày Valentine ahahaha~

Tổng quan

Rối loạn phân liệt cảm xúc là một dạng rối loạn loạn thần mà người bệnh có các triệu chứng của tâm thần phân liệt như ảo giác hoặc hoang tưởng và cả triệu chứng của rối loạn cảm xúc như trầm cảm hoặc hưng cảm. Vì như thế cho nên nhiều bệnh nhân thường bị chẩn đoán nhầm lần đầu thành rối loạn lưỡng cực hoặc tâm thần phân liệt.

Rối loạn phân liệt cảm xúc ảnh hưởng khoảng 0.3% dân số Mỹ. Không có sự khác biệt giới với rối loạn này, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam giới và nữ giới tương đương nhau nhưng nam giới thường bộc phát bệnh ở độ tuổi trẻ hơn.

Những giai đoạn của rối loạn phân liệt cảm xúc có thể rất khác với mỗi người vì thế nên bệnh vẫn chưa được hiểu hoặc định nghĩa rõ ràng như những dạng rối loạn tâm thần khác. Nếu không được chữa trị thì rối loạn phân liệt cảm xúc có thể dẫn đến các vấn đề gây ảnh hưởng tới hoạt động hoặc khả năng làm việc ở trường, ở công ty hoặc các tình huống xã hội. Những người mắc dạng rối loạn này có thể cần sự giúp đỡ với các hoạt động thường ngày. Các phương pháp chữa trị có thể giúp quản lý các triệu chứng và cải thiện cuộc sống.

Triệu chứng

Đặc điểm chính của rối loạn phân liệt cảm xúc là giai đoạn bộc phát bệnh không gián đoạn với những triệu chứng của Rối loạn trầm cảm hoặc Rối loạn lưỡng cực, hay cả hai, đồng xuất hiện với những triệu chứng của rối loạn tâm thần phân liệt. Một số các triệu chứng bệnh có thể bao gồm:

– Ảo giác, nhìn thấy hay nghe thấy những thứ không có thật.

– Hoang tưởng, những niềm tin sai lệch căn cố dù cho có những bằng chứng phản bác lại.

– Rối loạn tư duy, bệnh nhân có thể đổi chủ đề rất nhanh hoặc đưa ra những câu trả lời không hề liên quan tới câu hỏi.

– Trầm cảm: trải nghiệm cảm giác buồn bã, trống rỗng, vô dụng hoặc những triệu chứng trầm cảm khác.

– Hưng cảm: cảm giác hưng phấn tột cùng, suy nghĩ lướt qua khá nhanh, có những hành vi nguy hiểm không cân nhắc hoặc các triệu chứng khác của hưng cảm.

Để đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của rối loạn phân liệt cảm xúc, các đặc điểm chính của bệnh phải xuất hiện không gián đoạn trong suốt giai đoạn bệnh lý (period of illness), được tính từ lúc bệnh bộc phát cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi phục trong một khoảng thời gian nhất định và không còn biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào của bệnh. Với một số người, giai đoạn này có thể kéo dài suốt vài năm hoặc vài thập kỷ.

Giai đoạn bệnh lý với những triệu chứng của rối loạn cảm xúc đồng xuất hiện với tâm thần phân liệt phải thỏa mãn đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán của Rối loạn trầm cảm hoặc Rối loạn lưỡng cực với Tâm thần phân liệt. Các triệu chứng Rối loạn trầm cảm phải kéo dài ít nhất hai tuần, Rối loạn lưỡng cực kéo dài ít nhất một tuần và với Tâm thần phân liệt thì ít nhất một tháng.

Các triệu chứng của rối loạn phân liệt cảm xúc có thể xảy ra theo nhiều chiều hướng khác nhau. Một trong những chiều hướng điển hình là bệnh nhân có triệu chứng ảo thanh hoặc hoang tưởng kéo dài 2 tháng và sau đó là giai đoạn trầm cảm. Những triệu chứng loạn thần và giai đoạn trầm cảm xuất hiện trong khoảng 3 tháng . Sau đó bệnh nhân hồi phục hoàn toàn khỏi giai đoạn trầm cảm, nhưng những triệu chứng loạn thần vẫn tiếp tục kéo dài trong một tháng sau đó trước khi biến mất. Tổng thời gian bệnh lý kéo dài khoảng 6 tháng với duy nhất triệu chứng loạn thần trong 2 tháng đầu, sau đó triệu chứng loạn thần và trầm cảm đồng xuất hiện trong 3 tháng tiếp theo và ở tháng cuối cùng thì chỉ còn mỗi triệu chứng loạn thần.

Những triệu chứng này không phải là hệ quả từ việc dùng thuốc như cocaine, hoặc những tình trạng y tế khác như u não.

Rối loạn phân liệt cảm xúc có thể chia làm hai loại tùy theo những triệu chứng cảm xúc của bệnh:

– Loại trầm cảm: chỉ có những triệu chứng của rối loạn trầm cảm.

– Loại lưỡng cực: chỉ có những triệu chứng hưng cảm, có thể có hoặc không có giai đoạn trầm cảm.

Rối loạn phân liệt cảm xúc gây ảnh hưởng tới những chức năng bình thường, hạn chế những mối quan hệ xã hội và khiến người bệnh khó tự chăm sóc bản thân. Đồng thời, người bệnh còn có nguy cơ lạm dụng chất. Tuy các bằng chứng lâm sàng còn hạn chế nhưng Rối loạn nhân cách phân liệt, Rối loạn nhân cách ranh giới hay Rối loạn nhân cách hoang tưởng có thể xuất hiện trước rối loạn phân liệt cảm xúc.

schizophrenia1

Ví dụ lâm sàng

Anh Nehru là một người đàn ông 32 tuổi, di cư từ Ấn Độ sang Mỹ khi anh mới 13 tuổi. Anh trai  anh đã đưa anh đến phòng cấp cứu ở Atlanta, bang Georgia sau khi hàng xóm phàn nàn rằng anh đã đứng giữa đường, quấy rối những người khác về niềm tin tôn giáo. Khi gặp bác sĩ tâm thần, anh cứ lặp đi lặp lại “Tôi là Vishnu. Tôi là Krishna” (những vị thần trong tôn giáo Hindu ở Ấn Độ)

Nehru đã sống cùng anh trai và chị dâu mình suốt 7 tháng qua, đồng thời cũng đi khám ở phòng khám ngoài. Trong 4 tuần gần đây, hành vi của anh càng ngày càng tệ và gây phiền nhiễu nhiều hơn. Anh đánh thức anh trai mình bất kể giờ nào giữa đêm chỉ để bàn luận những vấn đề về tôn giáo. Anh thường tự trả lời với những âm thanh hay giọng nói mà chỉ anh mới có thể nghe được. Anh không tắm rửa cũng không thay đổi quần áo

Nehru thừa nhận rằng bắt đầu khoảng 5 năm về trước anh bắt đầu nghe thấy những giọng nói xuyên suốt cả ngày. Có rất nhiều giọng nói, thường bàn luận về hành vi và thảo luận về anh như thể người thứ ba, nó thường bắt đầu rất nhẹ nhàng (“Nhìn cậu ta kìa, cậu ta chuẩn bị ăn”) đến những lời nói mang tính sỉ nhục (“Thật đúng là một tên ngốc. Cậu ta chẳng biết gì cả.”)

Giữa những giai đoạn bệnh lý, theo lời bác sĩ ở phòng khám ngoài và anh trai thì Nehru là một người im lặng, có phần nào cách ly với mọi người. Nehru bảo, khoảng 6 tháng gần đây với cường độ tăng dần, các giọng nói bắt đầu bảo với Nehru anh là tân Messiah, Jesus, Vishnu, và Krishna và anh nên xây dựng tôn giáo riêng của mình. Anh bắt đầu trải nghiệm cơn sóng năng lượng, “để tôi có thể truyền bá chân lý của mình” và ngủ rất ít.

Trong lúc được phỏng vấn, Nehru đang trong cơn hưng cảm, nói rất nhanh  và khó có thể theo kịp lời nói của anh. Anh đi dọc lên xuống khu vực bệnh viện và khi gặp bác sĩ, anh sẽ tóm lấy tay người đó, kề sát khuôn mặt mình và bắt đầu nói với tốc độ rất nhanh và nhiệt tình về tôn giáo của mình. Giữa lúc truyền bá, đôi lúc anh sẽ bất chợt khen áo và cà vạt của bác sĩ hợp nhau như thế nào. Khi bị giới hạn hành động, anh trở nên ồn ào và giận dữ. Đồng thời anh cảm thấy bệnh viện là một phần âm mưu nhằm hạn chế anh truyền bá tôn giáo của mình.

Thảo luận

Anh Nehru có những triệu chứng ảo thanh kéo dài và xâm nhập đến mức anh không thể nào làm việc được. Những ảo giác này có vẻ liên tục và bắt đầu từ khi bệnh anh bộc phát 5 năm về trước. Thêm vào đó, anh cũng có các triệu chứng phù hợp với tiêu chuẩn của giai đoạn hưng cảm: cảm thấy hưng phấn, vĩ cuồng và khó chịu, cảm thấy áp lực cần phải nói và năng lượng dâng cao.

Nếu các bác sĩ không biết được rằng giữa các giai đoạn hưng cảm anh vẫn tiếp tục nghe thấy các giọng nói thì họ sẽ không ngần ngại mà chẩn đoán anh mắc Rối loạn lưỡng cực loại I. Tuy nhiên, chẩn đoán Rối loạn lưỡng cực loại I loại trừ trường hợp bệnh nhân có hoang tưởng hay ảo giác kéo dài ít nhất 2 tuần với sự vắng mặt của các triệu chứng rối loạn cảm xúc nổi bật. Vì thế, tình trạng anh Nehru nghe thấy những giọng nói khi không ở trong giai đoạn hưng cảm loại trừ chẩn đoán Rối loạn lưỡng cực loại I.

Các bác sĩ chú ý thấy giữa những giai đoạn hưng cảm, Nehru có những triệu chứng nổi bật của tâm thần phân liệt như hoang tưởng và ảo giác. Nên họ phải cân nhắc giữa chẩn đoán Tâm thần phân liệt với Rối loạn lưỡng cực chồng lên không xác định và Rối loạn phân liệt cảm xúc. Chìa khóa xác định tâm thần phân liệt là tổng thời gian của các giai đoạn hưng cảm phải ngắn so với tổng thời gian bộc phát bệnh lý. Tuy nhiên, các bác sĩ không thể biết rõ được giai đoạn hưng cảm của anh Nehru kéo dài bao lâu nhưng có thể tổng thời gian các giai đoạn này không quá 6 tháng trong suốt 5 năm anh phát bệnh. Vậy nó có được coi là ngắn hay không?  Bởi vì DSM-IV không cung cấp hướng dẫn chi tiết nên các bác sĩ đặt nặng các triệu chứng hưng cảm dường như xuất hiện với từng giai đoạn loạn thần tăng dần. Vì thế cho nên các bác sĩ chẩn đoán Nehru mắc rối loạn phân liệt cảm xúc.

Nguyên nhân

Vẫn chưa biết được nguyên nhân chính xác gây ra rối loạn phân liệt cảm xúc là gì. Sự kết hợp của nhiều nguyên nhân có thể góp phần phát triển bệnh:

– Di truyền: rối loạn phân liệt cảm xúc thường xuất hiện trong gia đình có người thân mắc cùng bệnh, hoặc tâm thần phân liệt hay rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa nếu bạn có người thân mắc bệnh thì bạn sẽ chắc chắn mắc bệnh, mà nó có nghĩa bạn có khả năng mắc bệnh cao hơn những người khác.

– Cấu tạo não bộ và các chất hóa học: Cấu tạo não bộ và các chất hóa học ở những người mắc rối loạn phân liệt cảm xúc có thể khác theo nhiều cách mà khoa học mới bắt đầu tìm hiểu. Dung tích não ở một số phần, ví dụ như chất xám của người mắc bệnh ít hơn so với người bình thường. Tỷ lệ giảm bớt này tương đồng với người mắc tâm thần phân liệt, nhưng không thấy ở người mắc rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Tuy nhiên vẫn chưa biết được chiều hướng mối quan hệ nguyên nhân-hậu quả này. Là bệnh rối loạn phân liệt cảm xúc dẫn đến sự thay đổi cấu trúc não bộ hay là sự thay đổi cấu trúc não bộ dẫn đến bệnh?

– Stress: Những sự kiện gây stress như người thân qua đời, hôn nhân kết thúc hay mất việc có thể kích thích các triệu chứng hoặc làm bộc phát bệnh.

– Lạm dụng chất: Những loại thuốc gây ảnh hưởng đến tâm trí như LSD được cho là có liên quan làm bệnh phát triển.

Chữa trị

Phương pháp chữa trị rối loạn phân liệt cảm xúc tốt nhất là kết hợp dùng thuốc lẫn chữa trị tâm lý, với các kỹ năng quản lý cuộc sống.

– Thuốc: Thông thường, các bác sĩ sẽ kê các loại thuốc làm giảm triệu chứng loạn thần, ổn định khí sắc và trị liệu trầm cảm. Những loại thuốc này có thể bao gồm:

  • Thuốc chống loạn thần (antipsychotic): Loại thuốc duy nhất được cơ quan quản lý thức ăn và thuốc ở Mỹ (FDA) cho phép dùng đặc biệt chữa trị rối loạn phân liệt cảm xúc là thuốc chống loạn thần paliperidone (Invega). Tuy nhiên các bác sĩ cũng có thể kê các loại thuốc chống loạn thần khác để giúp quản lý các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng và ảo giác.
  • Thuốc ổn định khí sắc (mood-stabilizing): Khi rối loạn phân liệt cảm xúc là loại lưỡng cực thì thuốc ổn định khí sắc có thể giúp ổn định các cơn hưng cảm và trầm cảm.
  • Thuốc chống trầm cảm: Nếu là loại trầm cảm thì các thuốc chống trầm cảm có thể giúp quản lý các cảm xúc buồn bã, tuyệt vọng hoặc gặp khó khăn với các giấc ngủ và tập trung.

– Chữa trị tâm lý (psychotherapy):

  • Cá nhân: Chữa trị tâm lý có thể giúp bình thường hóa các xu hướng và giảm thiểu các triệu chứng bệnh. Xây dựng mối quan hệ tin tưởng với người chữa trị có thể giúp bệnh nhân hiểu rõ hơn tình trạng của họ và học cách quản lý triệu chứng. Những buổi học hiệu quả tập trung vào việc lập ra những kế hoạch, giải quyết vấn đề và các mối quan hệ.
  • Chữa trị theo nhóm hoặc gia đình: Chữa trị càng có hiệu quả hơn nếu bệnh nhân có thể thảo luận những vấn đề ngoài đời thực mà họ gặp phải với người khác. Những nhóm ủng hộ có thể giúp làm giảm sự cô lập xã hội mà người bệnh gặp phải.

– Huấn luyện những kỹ năng sống: Tập trung vào việc cải thiện kỹ năng giao tiếp xã hội và giúp bệnh nhân có thể tham gia vào các hoạt động thường ngày. Những kỹ năng này đặc trưng trong từng hoàn cảnh khác nhau như ở nhà, hoặc công ty.

– Nhập viện: Trong giai đoạn khủng hoảng hoặc với những triệu chứng nghiêm trọng, bệnh nhân cần nhập viện để có thể đảm bảo an toàn, ăn uống, nghỉ ngơi đầy đủ và được chăm sóc cá nhân.

– Phương pháp sốc điện (ETC): Với người trưởng thành mắc rối loạn phân liệt cảm xúc không phản ứng với thuốc hay chữa trị tâm lý thì có thể cân nhắc phương pháp sốc điện.

Xin lưu ý rằng những thông tin bên trên chỉ cung cấp thông tin về bệnh và không nên được dùng để tự chẩn đoán. Nếu bạn lo lắng mình hoạc người thân có thể mắc bệnh, xin hãy đi khám bác sĩ để nhận được chẩn đoán chính xác cũng như sự can thiệp phù hợp nhất do tình trạng và triệu chứng khác nhau với từng người.

Dịch và chỉnh sửa: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Tham khảo:

http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/schizoaffective-disorder/home/ovc-20258872

http://www.nami.org/Learn-More/Mental-Health-Conditions/Schizoaffective-Disorder

APA, DSM-IV, page 319.

DSM-IV, Case Book by Spitzer et all, 1994.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5029760/

7

Vài Chuyện Nho Nhỏ

Chuyện vui là nhóm BMVN do mình đồng sáng lập vừa được đề cử trong Top 5 hạng mục tổ chức của năm Giải thưởng LGBTIQ tôn vinh!!!! Nếu ai cảm thấy những bài viết của mình và nhóm có giúp ích gì được cho mọi người thì hãy vào đường link này và vote giúp nhóm nha! Mình cảm ơn rất nhiều!!! Đây sẽ là món quà tinh thần ý nghĩa nhất đối với nhóm.

Nhóm được đề cử ở mục số VIII.

https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSfwebm3vCJB1qVF1ka4UHVN5D9k_X4f8H1mJ97c05LagYtlWw/viewform

Cái thứ hai là mình còn 6 tuần nữa là thi rồi. Thi ngày mùng 1 Tết mới ghê =))) thầy bói bảo năm vừa rồi bị sao Thái Bạch chiếu nên đừng thi, nên mình đợi vừa sang năm mới thi luôn cho oách =))) Nói thế chứ năm rồi có học gì đâu mà thi ;____;

Mà cũng vì kỳ thi tới gần nên mình stress khủng khiếp. Chỉ trong vòng 2 tháng gần đây mà mình đi khám bệnh tới 5 lần, và mỗi lần đều được cho cả đống thuốc, nhưng mãi vẫn chả khá hơn. Bác sĩ bảo là do thời tiết lạnh và hanh khô quá với lại stress dài nên bệnh mãi không khỏi. Mà cũng bởi thế nên lại càng thêm stress vì muốn vượt qua kỳ thi này do mình không nghĩ mình đủ sức lặp lại giai đoạn này nữa đâu.

Thế nên lễ Giáng Sinh, hay Tết tây gì cũng sẽ phải ôm máy luyện thi ahuhuhu. Nhìn điểm lết lên được từng chút mà thấy an ủi =))) Mà tréo ngoe cái là phần mình thấy ổn nhất là Tâm Lý Học thì điểm lại tệ nhất =)))do có kèm cả Xã hội học và kiểm tra thì nghiên về mấy cái cơ bản như các thuyết về cảm xúc,trải nghiệm, phát triển, lẫn phương thức làm nghiên cứu… mà mấy cái thuyết đó học hồi lớp đại cương xong thì quên mất tiêu, thế mạnh của mình về rối loạn tâm lý thì lại chẳng phải là phần quan trọng nhất của bài kiểm tra. Thế là phải ôm hận rồi tụng lại hết mớ học thuyết nhức đầu ấy. Ahuhu

Thôi thì mơ về một ngày shopping không cần nhìn giá mà cố lên thôi!!!

À,các chương truyện vẫn sẽ được lên lịch post như cũ nhé. Nhưng mình không có thời gian beta nên các bạn cứ com chỗ nào bị lỗi giúp minh. Thi xong mình sửa liền. Cảm ơn các bạn nhiều!!!

Ngày lành,

Nguyệt