0

Rối Loạn Tâm Lý và Phạm Tội

Trên các các bộ phim truyền hình hay điện ảnh có liên quan đến chủ đề tội phạm và tâm lý thì hầu như nhân vật tội phạm đều mắc một dạng rối loạn tâm lý nào đó khiến cho hắn ta phạm tội, điển hình như một số tập trong bộ phim truyền hình Criminal Minds hay gần đây nhất là bộ phim Split – Tách Ly. Những mô tả này mặc dù có thể đúng về bản chất rối loạn tâm lý như triệu chứng và một vài khía cạnh nguyên nhân như gia đình, xã hội, nhưng đồng thời nó cũng dễ khiến những người không có kiến thức về tâm lý học, đặc biệt là tâm lý dị thường lầm tưởng rằng những người mắc rối loạn tâm lý là tội phạm, là nguy hiểm, từ đó dẫn đến những định kiến và phân biệt đối xử với những người mắc rối loạn tâm lý và càng khiến cho họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự giúp đỡ và điều trị.

Trên báo chí, khi một tội ác nào đó do ai đó mắc rối loạn tâm lý làm ra thì những bài viết này đều được giật tít, chiếm một khoảng lớn trang nhất với những hình ảnh giật gân, khiến cho những tin tức này in dấu trong đầu chúng ta lâu hơn. Nhưng thực tế là phần lớn những người mắc rối loạn tâm lý không phải tội phạm, không bạo lực và không nguy hiểm. Họ là những con người bình thường, đều thức dậy mỗi ngày, đều đi làm, đều ăn uống – như chúng ta.

Trong một nghiên cứu về những tội thực hiện bởi người mắc rối loạn tâm lý nặng, chỉ có khoảng 7.5% có liên quan trực tiếp tới các triệu chứng rối loạn tâm lý. Trong 429 tội của 143 tội phạm với ba dạng rối loạn tâm lý quan trọng thì các nhà nghiên cứu tìm thấy 3% trong số đó liên quan trực tiếp đến triệu chứng trầm cảm, 4% liên quan tới tâm thần phân liệt và 10% liên quan tới rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Đồng thời, nghiên cứu cũng không tìm thấy xu hướng dự đoán liên kết hành vi phạm tội với triệu chứng rối loạn tâm lý.  Thế nhưng có khoảng gần 40% các tin tức liên kết các rối loạn tâm lý với các hành vi bạo lực tổn thương tới người khác. Theo ban phục vụ sức khỏe và con người ở Mỹ (U.S Dept. of Health and Human Services), những người mắc các dạng rối loạn tâm lý nặng thường là nạn nhân của các tội ác bạo lực gấp 10 lần hơn những người khác.

Những cuộc khảo sát cộng đồng cho thấy phần lớn người dân Mỹ cho rằng những người mắc rối loạn tâm lý là nguy hiểm. Các bộ luật đã được thông qua làm giảm đi quyền công dân của những người được chẩn đoán mắc rối loạn tâm lý. Ý kiến chung rất rõ ràng – những người mắc rối loạn tâm lý là mối đe dọa tới sự an toàn cộng đồng và cần được xử lý.

Chúng ta có thể kết luận rằng một số dạng người với rối loạn tâm lý thường vi phạm pháp luật hơn những người khác. Tuy nhiên mối liên quan này thường dựa vào một số dạng rối loạn tâm lý và không phải tất cả các triệu chứng đều biểu hiện giống nhau. Do đó, quan niệm và việc sử dụng cụm từ “rối loạn tâm lý” chung chung gây ra vấn đề lớn. Có rất nhiều dạng rối loạn tâm lý, một số loại làm tăng nguy cơ bạo lực và các hành vi chống đối xã hội, một số loại lại không.

Quan trong hơn cả, các yếu tố nguy cơ làm tăng các hành vi phạm tội ảnh hưởng đến những người mắc rối loạn tâm lý tương tự như những người khác. Ví dụ như tự chủ thấp hay sinh sống ở môi trường không tốt. Thực tế, những yếu tố nguy cơ này có liên quan mật thiết đến các hành vi phạm tội hơn là các dạng rối loạn tâm lý. Rối loạn tâm lý không phải là nguyên nhân cần thiết hay đầy đủ gây nên tội ác. Những nguyên nhân quyết định bạo lực vẫn tiếp tục là xã hội – nhân khẩu học, xã hội – kinh tế và địa vị xã hội – kinh tế thấp.

Dịch và Viết: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Tham Khảo:

http://www.apa.org/news/press/releases/2014/04/mental-illness-crime.aspx

http://time.com/4358295/violent-crimes-mental-illness/

https://www.researchgate.net/profile/Matt_Vogel/publication/261330367_Mental_Illness_and_Criminal_Behavior/links/568fed1b08aed0aed810c4a8.pdf

 

2

Thần Mộc: Chương 95

Nay bên Mỹ đang vào mùa xuân hoa nở rộ nên mình chụp hình hoa lá về share với mọi người he he.

Chương 95: Hóa Thần

Edit/Beta: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

IMG_8455

.

Đạo đại yêu song tu, dùng rất tốt, có thể bù đắp đồng thời làm tu vi tăng lên. Nhưng mà, loại tăng lên này chỉ là tăng lên linh lực mà thôi, đối với tâm cảnh cùng thuật pháp không hề có ích. Cái này cũng không thể tránh được, chung quy chưa từng nghe nói cùng người trong lòng trên giường dính nhau, có thể ngộ ra đại đạo trong trời đất, hoặc là có thể luyện ra tuyệt chiêu kinh thế gì.

Có thể tăng lên đại khái chỉ có tình cảm hai người cùng kỹ thuật trên giường…… mà thôi.

Thanh Đồng yên lặng nhìn Mạc Thiên Liêu, chậm rãi vươn ra một ngón tay thon, móng vuốt sắc nhọn nháy mắt phóng ra.

“Óa!” Một tiếng hét thảm vang vọng chân trời.

Thái Thủy yên lặng bay tới bên cạnh cây cột, biến thành giấy dán màu đồi mồi cùng cây cột hòa thành một thể. Một cái móng vuốt xù lông thật to cào cào giấy dán, là hổ mập nằm rạp trên mặt đất giả làm thảm.

Nhìn thấy hổ mập có cùng cảnh ngộ, Thái Thủy lập tức có tinh thần, biến thành dây chuyền đeo trên cổ hổ ta, cùng hổ mập chậm rãi đi ra ngoài. Continue reading

4

Xả Tức Một Chút

Hôm bữa mình tranh luận trên page Mind Detox vì một bài về tự tử của giới trẻ trong giai đoạn khủng hoảng 1/4 cuộc đời. Mình công nhận là bài viết có ý tốt nhưng diễn giải về tự tử còn sai, đặc biệt là khi bài viết ám chỉ  người trẻ tự tử là do khủng hoảng phát triển mà nguyên nhân chính đến từ việc có quá nhiều sự lựa chọn dẫn đến hoang mang và bế tắc, thành ra người trẻ tự tử để không phải đối mặt với chọn lựa hay các vấn đề thêm lần nào nữa. Vấn đề nằm ở câu này, nó ám chỉ người có suy nghĩ tự tử là những người hèn nhát, không dám lựa chọn đối mặt với khó khăn hay quyết định. Trong khi, một người có suy nghĩ tự tử là khi họ tuyệt vọng không tìm thấy lối ra. Nghiên cứu cũng chỉ ra hơn hơn một nửa những người có tự tử đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nguồn y tế trước khi thực sự tự tử. Và khi tất cả các phương thức ấy không còn hiệu quả thì họ mới chọn đến phương thức tự tử để chấm dứt nỗi đau. Nhưng ngay cả giây phút quyết định họ cũng cảm thấy băn khoăn và muốn tìm cách khác nhưng bản thân lại không thể thấy được đường ra. Vậy thì nói họ tự tử khi không dám đối mặt với sự lựa chọn, trốn tránh trách nhiệm có là quá khắt khe hay không?

Mình đọc và hiểu được người viết bài không có chuyên môn gì về tâm lý và viết theo kiểu bạn ấy hiểu từ cuộc nói chuyện giữa các chuyên gia và bạn trẻ. Tuy nhiên, trang Mind Detox được thành lập với tiêu chí rằng “nâng cao nhận thức và trang bị phương pháp giải quyết các vấn đề tâm lý nghiêm trọng cho giới trẻ thành thị.” nhưng người viết lại thừa nhận mình không có chuyên môn vậy thì làm sao nâng cao nhận thức tâm lý được?

Mình rất vui khi càng ngày càng có nhiều người chú ý về vấn đề sức khỏe tâm lý. Đỡ hơn cái thời mình loay hoay với trầm cảm mà còn không biết mình mắc bệnh gì vì thông tin khá hiếm trên mạng. Thế nhưng rối loạn tâm lý không phải là tâm lý thường thức, tâm lý đời sống mà chỉ cần đọc vài bài, nghe vài nơi là hiểu. Nó rất phức tạp và dễ bị hiểu sai. Đó cũng là nguyên do vì sao vẫn còn nhiều lầm tưởng và thành kiến về các rối loạn tâm lý. Đừng lấy lý do không hiểu chuyên môn để bao biện cho sai lầm. Nó có thể gây chết người đấy ạ.

Trong cuộc tranh luận với bên kia thì có một chị chuyên gia tâm lý, tham gia cuộc nói chuyện về chủ đề trên, vào nói chuyện với mình. Đại ý rằng, à ờ chị ấy thường đọc những bài viết về tâm lý, tuy có những chỗ sai nhưng các bạn ấy cũng là có ý tốt, với lại đây cũng là chủ đề khó nên các bạn ấy không hiểu rõ thì cũng nên châm chước. Chứ bây giờ nếu các bạn ấy không viết thì còn ai viết đây, và phải đợi đến bao giờ? Mình thì suy nghĩ thà ít mà đúng còn hơn nhiều mà sai. Tại sao chúng ta lại du di cho những người truyền bá thông tin sai lệch chỉ vì họ không hiểu. Mà trong khi những thông tin ấy có thể gây ra tác hại lớn, hoặc chết người? Chúng ta lên án những thầy đồng, bà cốt dùng nước tro chữa ung thư, tẩy chay họ, đòi hỏi chính quyền xử lý họ vì những gì họ làm có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người. Vậy mà lại du di cho trường hợp đưa thông tin sai lệch gây nguy hại đến sức khỏe người khác? Chỉ vì nó tác động lên tâm lý, chứ không phải thể chết, và vì chúng ta không nhìn thấy được nên nghĩ rằng nó không gây hại lắm?

Vì mình hiểu, nên mình có thể chỉ ra chỗ sai, vì mình hiểu nên mình có thể cảnh báo người thân không nên đọc bài viết ấy. Nhưng còn những người không hiểu thì sao? Có bao nhiêu người đọc rồi dùng suy nghĩ ấy, tâm thế rằng tự tử là trốn tránh trách nhiệm để nói với người thân đang mắc rối loạn tâm lý của mình? Và có bao nhiêu người sau khi nghe sẽ càng cảm thấy bản thân vô dụng và chọn lựa cái chết? Trong thời đại công nghệ thông tin ngày nay, một bài post lên FB trong quãng thời gian ngắn có thể đạt được cả ngàn share, độ phủ sóng lan rộng đến bất ngờ. Một thông tin sai cũng đủ đế giết người chứ chẳng cần dao kéo gì cả.

Thế nên các bạn ạ, hãy chọn lọc nguồn mà đọc, và khi đọc các thông tin khoa học từ các page mà bạn không biết thì luôn chỉ tin 50% mà thôi, còn lại 50% các bạn nên tự kiểm chứng. Đương nhiên, nếu đó là nguồn đáng tin cậy thì bạn khỏi cần kiểm chứng cũng được, như mình nè. Hi hi, bảo đảm với các bạn thông tin các bài viết tâm lý được đưa ra đã qua kiểm ra chéo từ các nguồn và đảm bảo đúng với khoa học cho đến thời gian hiện tại.

Cơ mà, lúc cãi nhau có một em học TLH ở trường đại học Nhân Văn vào mỉa mai mình là có học chuyên ngành tâm lý hay ko, hành nghề bao lâu, làm cái gì rồi mà dám chất vấn với tiền bối trong nghề, rồi lại dân tâm lý thì phải biết cách xả giận chỗ khác chứ sao lại dùng từ công kích thế kia. Mình thề là mình nói chuyện rất đàng hoàng các bạn ạ, có trên có dưới, lập luận rõ ràng. Mình chẳng hề công kích cá nhân ai mà nói thẳng vào điểm sai của bài. Mà mấy bạn trẻ bên VN cứ khoái xoáy vào cá nhân khi tranh luận nhỉ. Cơ mà mình không phải là dân trong ngành thật, nhưng về kiến thức thì mình dám cam đoan mình chẳng thua mấy bạn ấy đâu. Trẻ con bây giờ láo thật ấy. Nói chung là mình lờ nó luôn. Chứ gặp phải mình hồi xưa là mình tế con bé  lên rồi. Cảm thấy làm việc trong ngành khoa học với facts và evidence riết rồi mình mất khả năng mỉa mai luôn. Hu hu.

7

Một Vài Điều Về Trầm Cảm

Một trong những điểm yếu của DSM mà rất may là DSM-5 đã chỉnh sửa phần nào, chính là việc nó phân loại các rối loạn tâm lý vào danh mục (category), chẩn đoán dựa vào việc liệu bạn có những triệu chứng rối loạn không, mà không dựa vào các khía cạnh (dimensional) và độ nặng nhẹ của triệu chứng (severity). Việc phân loại như thế dễ gây ra xảy ra việc chẩn đoán sót các ca rối loạn tâm lý nhẹ, hoặc gây ra các hiểu lầm như người mắc rối loạn tâm lý phải có bao nhiêu đây triệu chứng, hoặc đóng khung một dạng rối loạn nào đó dẫn đến các nhận thức sai lệch về rối loạn tâm lý mà điển hình nhất là trầm cảm.

Các nhận thức sai lầm thường thấy nhất về trầm cảm đó chính là người mắc trầm cảm không nỗ lực, hay trầm cảm là hệ quả từ thái độ/lối sống không tích cực, họ không muốn được giúp đỡ, hoặc tất cả chỉ là do họ tưởng tượng ra, hoặc người mắc trầm cảm phải giống như thế này…

Sự hợp tác của bệnh nhân với bác sĩ là một phần quan trọng trong điều trị và theo những gì mình quan sát được khi thực tập ở các phòng khám, thì phần lớn những người mắc rối loạn tâm lý là một trong những người nỗ lực, hợp tác với bác sĩ nhất. Họ luôn cân nhắc hỏi bác sĩ khi có vấn đề với thuốc, uống đúng giờ đúng liều, luôn làm hẹn mỗi khi thuốc gần hết để quyết định xem nên dừng hay nên uống tiếp, tập thể dục để cải thiện sức khoẻ. Nhưng có những trường hợp như cơ thể người bệnh không cho phép những hoạt động nhẹ nhàng nhất như đi bộ vì đầu gối chấn thương, hay trường hợp họ không may mắc phải dạng rối loạn tâm lý không phản ứng với thuốc nên phải không ngừng tìm kiếm những phương pháp chữa trị khác. Thế nên nói những người như họ không nỗ lực, hay không biết phấn đấu thay đổi cuộc sống là những lời nói thiển cận, ác độc nhất với mình.

Trong bài diễn thuyết ở TedX, giáo sư Andrew Solomon, một nhà văn, nhà báo từng đoạt nhiều giải thưởng và hiện đang giảng dạy về tâm lý học lâm sàng ở trường đại học Columbia, Mỹ đã kể về một ca bệnh mà ông ấn tượng nhất. Một người đàn ông trung niên mắc rối loạn trầm cảm hàng năng trời và không phản ứng với bất kỳ loại thuốc chống trầm cảm nào, và ông phải đi sốc điện mỗi tháng. Tuần đầu sau khi sốc điện rất tệ, nhưng ông khá hơn vào tuần sau để rồi tuần tới lại rơi vào cơn trầm cảm tồi tệ và tuần sau đó nữa ông lại đi sốc điện tiếp. Ông nói với Andrew Solomon rằng, “Tôi thật không thể chịu đựng nổi khi phải trải qua những tuần như thế này, và tôi đã quyết định rằng tôi sẽ chấm dứt tất cả nếu như tôi không cảm thấy khá hơn. Nhưng, tôi nghe ở Mass General có cuộc giải phẫu não và tôi nghĩ rằng mình nên thử xem như thế nào.” Thời điểm đó Andrew cảm thấy rất ngạc nhiên rằng một người đã trải qua nhiều trải nghiệm tồi tệ như thế với đủ loại chữa trị vẫn cất giữ một chút lạc quan và hy vọng bên trong để thử thêm một lần nữa. Và may mắn làm sao, đợt phẫu thuật ấy đã thành công. Ông kiếm được việc làm, có thể tự chăm sóc bản thân. Khoa học chứng minh những người có chỉ số loạn thần và lối suy nghĩ nghiền ngẫm quá mức (rumination), hoặc tiêu cực dễ mắc các dạng rối loạn cảm xúc. Tuy nhiên, với bản thân mình thì họ cũng là những con người can đảm và tích cực ngay cả khi hoàn cảnh hay trải nghiệm của họ không như thế.

Một nhận thức sai lầm khác là trầm cảm chỉ có ở người lớn và người giàu có. Có không ít trường hợp những đứa trẻ mới tầm độ tuổi 8-9 mắc rối loạn trầm cảm không phản ứng với thuốc nên dùng sốc điện để chữa trị. Và người nghèo có nguy cơ mắc các dạng rối loạn tâm lý cao hơn những người có tài chính địa vị trong xã hội. Mà một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là người nghèo không có khả năng chi trả phí điều trị, hay không đủ kiến thức để biết được những gì họ đang trải qua là một dạng rối loạn tâm lý. Mỗi tuần mình đi thực tập một ngày ở phòng khám miễn phí dành cho người nghèo và người không có bảo hiểm ở Mỹ, và trong những ngày đó mình quan sát thấy được khoảng từ 3-5 trên tổng số 15 bệnh nhân trong ngày đến khám và xin thuốc để điều trị rối loạn tâm lý. Có những khi phòng khám không còn thuốc để cung cấp miễn phí và đành phải kê đơn để họ mua ở nhà thuốc thì họ cố gắng tiết kiệm đến mức cắt nửa viên thuốc ra uống hoặc uống khi cần kíp, mặc dù biết rằng giảm liều như thế có thể ảnh hưởng đến quá trình hồi phục.

Chúng ta cũng thường bỏ quên những người mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao. Bề ngoài, họ có thể luôn vui vẻ, hoàn thành công việc của mình, luôn giúp đỡ người khác, luôn đứng đầu trong các hoạt động, khiến những người xung quanh khó mà nhận ra họ đang vật lộn với những suy nghĩ tiêu cực bên trong. Họ trải nghiệm cuộc sống cứng nhắc như một robot, không thể hưởng thụ niềm vui, cũng như không có mục tiêu gì cả. Họ có thể không cảm thấy đau đớn, buồn bã khó chịu. Nhưng nếu phải miêu tả cảm xúc của họ thì đó là tê dại.

Một người bạn mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao đã nói với mình như thế này, “Đầu tiên, tôi từ bỏ việc tìm kiếm thấu hiểu từ gia đình. Sau đó, tôi từ bỏ việc hòa nhập với bạn bè trong lớp. Rồi đến những bạn bè cùng sở thích. Và nhóm bạn “thân”, cùng những cá thể “đặc biệt quan trọng”. Tôi từ bỏ việc thấu hiểu nhân loại cũng như tìm kiếm đồng cảm từ nhân loại. Hằng ngày tôi vẫn đều đặn đi học, và hiện tại thì vẫn đều đặn đi làm. Tôi vẫn chơi game, vẫn vẽ, vẫn viết, vẫn đi cafe hay xem phim ảnh. Nhưng sau mỗi sự buông bỏ kia, cảm giác trống rỗng trong lòng tôi tăng dần lên. Tôi hay nói ở vị trí tim mình là một hố đen sâu hoắm, và khó thở.

Từ năm cấp ba, tôi đã mắc chứng nghiện nhổ tóc, tận giờ vẫn chưa khỏi. Một điều buồn cười là dù biết rằng mình chẳng có lỗi gì khi mắc chứng này, thế nhưng tôi vẫn luôn thấy trong lời nói của người khác có sự trách móc rằng tôi không đủ ý chí kiểm soát cơ thể mình, tư duy ngu ngốc và kỳ quái. Hoặc cũng có đôi khi họ vô tình nói đúng vấn đề, rằng “mày bị thần kinh sao mà nhổ tóc hoài vậy?”. Bởi thế mà tuy hiện tại tôi đã ngừng tự trách cũng như có ý thức giảm bớt hành vi của mình, nhưng tôi vẫn luôn né tránh bàn luận trực tiếp chủ đề đó với những người “bình thường” khác.

Trầm cảm giống như bất kỳ chứng bệnh thể lý nào, ai cũng có khả năng mắc phải và nó không chừa một ai cả.  Trầm cảm không nhất thiết phải biểu lộ ra hết tất cả những triệu chứng có trong DSM, và các triệu chứng biểu hiện khác nhau tùy theo mỗi người. Và điều mà chúng ta nên làm là không nên đóng khung biểu hiện bệnh lý hay tự chẩn đoán và nếu người thân chúng ta nghĩ rằng họ có thể mắc một dạng rối loạn tâm lý nào đấy thì nên hỗ trợ họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ các chuyên gia càng sớm càng tốt hơn là chối bỏ vấn đề của họ.

Mình muốn kết bài bằng một câu nói mà mình đọc được khi lang thang trên mạng tìm kiếm tư liệu để viết bài, “Không thiếu những lúc chúng ta được nhắc nhở rằng rối loạn tâm lý không phân biệt một ai cả, nhưng rồi chúng ta lại quay trở về với suy nghĩ thiển cận rằng rối loạn tâm lý nên biểu hiện như thế nào. Và điều đó rất là nguy hiểm.”

-Nguyệt-

6

Tâm Lý Học: Ảo Giác Về Quyền Điều Khiển

Ảo giác về quyền điều khiển (Illusion of control)  là khuynh hướng một người đánh giá quá cao khả năng anh ta điều khiển được các tình huống, sự kiện. Ví dụ, hiện tượng này xảy ra khi anh ta cảm giác được quyền điều khiển đối với kết quả của một sự kiện mà rõ ràng là anh ta không có sức ảnh hưởng gì. Hiệu ứng này được đặt tên bởi nhà tâm lý học Ellen Langer và được cho rằng có ảnh hưởng đến các hành vi cờ bạc và niềm tin về những điều siêu nhiên.

Ảo giác về quyền điều khiển rất thường xảy ra ngay cả trong tình huống ngẫu nhiên nhất. Và đặc biệt, nó thường xảy ra trong những hoàn cảnh có liên quan đến cá nhân, sự tương đồng, biết trước kết quả mong muốn, và sự tập trung về thành công. Khi một tình huống hoàn toàn ngẫu nhiên có những dấu hiệu vừa liệt kê xảy ra thì người ta cư xử, hành động như thể kết quả của tình huống ấy được quyết định bởi họ, hay nói chính xác hơn là những kỹ năng của họ. Những yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến hiệu ứng này bao gồm trạng thái, khí sắc trầm uất và nhu cầu về quyền không chế. Tức là ảo giác về quyền điều khiển sẽ thấp và yếu với những người bị trầm cảm hoặc đang trong trạng thái trầm uất. Họ thường nghĩ mình sẽ không thay đổi được gì và mọi chuyện sẽ không bao giờ khá lên được. Những người trầm uất và người không trầm uất khác nhau ở khả năng họ xác nhận sự thiếu hụt quyền điều khiển. Với những người không trầm cảm, họ phô bày ảo giác về quyền điều khiển khi đánh giá mức độ điều khiển mà họ có được với một sự kiện mà hậu quả rõ ràng là không nằm trong quyền điều khiển của họ. Còn với những người trầm cảm thì họ có nhận thức chính xác hơn về sự khuyết thiếu quyền điều khiển của mình. Điều này thường được coi là thiếu hụt động lực (hoặc ngược lại, thiếu nhạy cảm về quyền điều khiển nằm trong những chuỗi nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm).  Ngược lại, ảo giác về quyền điều khiển sẽ mạnh đối với những người có nhu cầu và cảm giác cần thiết để khống chế. Ảo giác này càng mạnh hơn trong những tình huống áp lực và cạnh tranh bao gồm các vấn đề liên quan đến trao đổi kinh tế.

strings

Nguồn: advisoranalyst

Trong những nghiên cứu khá thú vị về hiệu ứng này, Langer chứng minh rằng người ta thường đánh giá cao quyền điều khiển của mình trong những tình huống đơn thuần ngẫu nhiên. Ví dụ, trong một thí nghiệm, một số người được quyền lựa chọn vé sổ xố cho mình, còn một số người thì được phát vé sổ xố. Sau đó, những người tham gia cuộc thí nghiệm được quyền đổi vé số một lần với khả năng trúng giải cao hơn. Mặc cho sự thật rằng nếu đổi vé số thì khả năng trúng số sẽ cao hơn, nhưng những nguời được quyền lựa chọn vé số ban đầu không đổi số. Họ vẫn giữ tấm vé số mà mình chọn ban đầu. Dường như họ nghĩ rằng, tự mình chọn vé số làm tăng khả năng họ trúng giải – như thể hành động lựa chọn vé số của họ cho họ quyền điểu khiển kết quả sổ xố, mà rõ ràng các số được chọn trúng giải chỉ là ngẫu nhiên mà thôi và chẳng có liên quan gì đến chuyện họ là người chọn số, hay là được phát số cho.

Sự lựa chọn được cho là gây ra ảo giác về quyền khống chế. Người ta hành xử như thể họ có quyền điều khiển nhiều hơn nếu họ tự mình thảy xúc xắc hơn là người khác thảy cho họ. Khi người ta trông chờ vào một kết quả nào đó, và kết quả ấy xảy ra như họ mong muốn thì họ thường đánh giá quá cao mức độ ảnh hưởng của mình đối với kết quả ấy, như thể nhờ có mình, hay mình là yếu tố quyết định làm nên kết quả này. Tuy nhiên, mỉa mai thay, trong những tình huống mà người ta hoàn toàn có quyền điều khiển, thì họ lại đánh giá thấp quyền điều khiển của mình.

Vậy thì do đâu chúng ta lại có ảo giác về quyền điều khiển?  Một trong những nguyên do gây nên hiệu ứng này là động lực. Ở phương diện này, sự ước đoán của một người về quyền điều khiển bị  ảnh hưởng bởi những nhu cầu chủ quan có liên quan tới việc gìn giữ và phát huy lòng tự tôn của bản thân. Một trong những nhu cầu đó gọi là nhu cầu được điều khiển đã nhắc ở bên trên. Đã có những chứng minh cho thấy cảm giác nắm quyền điều khiển có liên quan tới sức khỏe. Và nhận thức về việc không thể điều khiển thì có quan hệ mật thiết với những hệ quả tiêu cực tới cảm xúc, nhận thức và cả trầm cảm.

Với tầm quan trọng về việc nhận thức và thật sự có quyền điều khiển, một số nhà nghiên cứu cho rằng ảo giác về quyền điều khiển là một kiểu thành kiến cá nhân nhằm ngăn ngừa một người khỏi những hệ quả tiêu cực từ việc không thể điều khiển như đã nêu trên. Đồng thời, hiệu ứng này cũng cho phép người khác được hưởng lợi và danh vọng từ những tình huống thành công và từ chối trách nhiệm với những sự kiện thất bại. Theo cách này thì khi một  người hành xử để đạt được kết quả như ý phải đối mặt với tình huống có xác suất thành công hay thất bại ngẫu nhiên, thì họ thường coi bản thân mình là yếu tố quyết định sự thành công và thất bại thì không phải lỗi của mình mà chỉ là xui thôi.

Hiệu ứng ảo giác về quyền điều khiển đã và đang được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Có thể thấy rõ hiệu ứng ảo tưởng về quyền điều khiển trong hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân. Đa số những người đổ lỗi cho nạn nhân, nhất là những nạn nhân bị cưỡng bức thường suy nghĩ, “nếu là mình thì chuyện này sẽ chẳng bao giờ xảy ra”, mà không nhận ra rằng chuyện bất hạnh có thể xảy ra với bất kỳ ai. Trích từ một bài viết cũ của mình,

Một trong những lý do khiến mọi người đổ lỗi cho nạn nhân là để cách ly họ ra khỏi những tình huống tiêu cực này và tự nhủ rằng họ sẽ không dễ gì gặp chuyện nguy hiểm như vậy. Bằng việc dán nhãn, hay đổ lỗi cho nạn nhân, người khác sẽ nhìn nạn nhân khác hẳn với họ. Mọi người tự trấn an với bản thân bằng cách suy nghĩ, “Bởi vì mình không giống như cô ta, bởi vì mình không làm như thế, cho nên chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra với mình.”

Nghiên cứu được thực hiện bởi tiến sĩ Ronnie Janoff- Bulman đề xuất ý kiến rằng đôi lúc ngay cả nạn nhân cũng tự hạ thấp bản thân họ, rằng chính những hành vi của bản thân là nguyên nhân dẫn đến sự đau đớn, bất hạnh mà họ gặp phải, chứ không phải là tính cách thường ngày của họ, để cho những sự kiện tiêu cực trông có vẻ như có thể điều khiển được, và do đó, có thể tránh được trong tương lai.

Lerner giả thuyết rằng gốc rễ của xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nằm ở niềm tin trong một thế giới, cái thế giới mà mỗi hành động đều đoán trước được những hậu quả đi kèm, và con người có thể điều khiển được những gì xảy ra với họ. Nó nằm cả trong những câu tục ngữ, câu nói thông thường như “Gieo nhân nào, gặt quả ấy”, hay “ Gieo gió ắt gặt bão”. Chúng ta muốn tin rằng công lý sẽ đến với những người làm ác, trong khi người tốt, trung thực, tuân thủ luật pháp sẽ được tưởng thưởng. Nghiên cứu đã tìm ra, không ngạc nhiên gì, với những người tin rằng thế giới là một nơi tốt đẹp thì họ thường hạnh phúc hơn và ít đớn đau. Nhưng niềm hạnh phúc này đều có cái giá của nó, nó có thể làm giảm đi sự thấu cảm của chúng ta với những người gặp bất hạnh, và thậm chí chúng ta có thể làm tăng nỗi đau đớn ấy thêm bằng việc chỉ trích.

Những nghiên cứu gần đây chỉ ra những người mắc trầm cảm thường có đánh giá chính xác hơn về sức điều khiển của họ với tình huống hơn người không mắc trầm cảm. Hiện tượng này được gọi là chủ nghĩa hiện thực trầm cảm (depressive realism) và có thể được phân tích như sự khuyết thiếu động lực của người mắc trầm cảm khi không dùng cơ chế tự phục vụ bản thân (self-service) dẫn đến ảo giác về quyền điều khiển.

Quá ảo tưởng về quyền điều khiển sẽ che mờ mắt và khiến chúng ta trở nên vô cảm, khuyết thiếu hiệu ứng này lại khiến chúng ta mất đi động lực và lâu dài lại trở nên trầm cảm. Từ khóa ở đây là cân bằng. Rất khó để biết đâu là điểm cân bằng. Vì thế trước khi chỉ trích thì nên ngẫm nghĩ rằng, thật sự mình có thể làm tốt hơn thế trong hoàn cảnh của họ hay không, trước khi tự trách thì nên đắn đó, liệu mình có thể làm gì để thay đổi, đồng thời nhận ra rằng có những thứ mình không thể điều khiển được.

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims

 

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims

1

Thần Mộc: Chương 94

Chương 94: Bảo Các

Edit/Beta: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

a6b94-cute-white-kitten-cat-blue-eyes

Lúc Mạc Thiên Liêu trở lại nội cung, Huyền Cơ đang ngồi xổm bên giường người đang ngủ say khò khò trên giường.

Đứa em vất vả lắm mới nuôi lớn được, khi còn bé bị ma đầu này ôm đi thì cũng thôi đi, dẫu sao khi đó còn nhỏ tuổi, bây giờ đã là đại yêu kỳ hóa thần rồi, thế nhưng vẫn bị bắt cóc, lại vẫn cùng một người! Thế này bảo người làm anh như hắn không tức giận sao cho được! Huyền Cơ hạ quyết tâm muốn răn dạy Thanh Đồng một trận thật tốt, cho y biết uy nghiêm huynh trưởng. Continue reading

3

Thần Mộc: Chương 93

Chương 93: Tranh Chấp

Edit/Beta: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

57fc867709638028e7d9241a892b8589

.

.

Mạnh Hổ nhào lên ôm chặt lấy eo Huyền Cơ, gắt gao kéo người lại.

Mặc Hùng không rõ cho lắm, thấy Mạnh Hổ không ngừng nháy mắt với hắn, cũng tiến lên hỗ trợ, ôm lấy chân Huyền Cơ. Continue reading