0

Những Câu Hỏi Hay Trên Quora (1)

Quora là nơi mọi người đăng những câu hỏi và có những chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau lẫn người thường vào trả lời. Các chủ đề trên Quora rất thú vị và bạn có thể học được nhiều thứ mới trên đó. Đây là một trong những trang web mình để chế độ nhận email để có thể nhận được tin nhắn về những câu hỏi hay thuộc chủ đề mình thích. Bạn nào thích thì có thể check thử xem.

Dưới đây là một câu hỏi trên Quora mà mình tình cờ đọc được và rất thích.

Câu hỏi: Điều gì những nhà tâm lý học nghĩ nhưng giữ cho riêng mình và không nói với thân chủ mắc trầm cảm?

Trả lời: Betsy Kassoff, nhà tâm lý học lâm sàng (từ 1985-hiện tại)

Trong 30 năm tư ván cho những người trầm cảm (và nhiều người khác) có một vài điều tôi suy nghĩ, nhưng hiếm khi nói, ít nhất là trong khoảng thời gian đầu của quá trình chữa trị.

Người đó trầm cảm, hay là không vui? Hai cái này không giống nhau. Người trầm cảm cảm thấy bơ vơ và tuyệt vọng. Họ gặp vấn đề với ăn uống và ngủ quá nhiều hoặc quá ít. Họ đánh mất cảm giác thỏa mãn với những hoạt động đã từng khiến họ cảm thấy hạnh phúc. Cuộc sống nhìn như màu xám với họ, hoặc trống trải, hoặc khắc nghiệt. Người không hạnh phúc có thể cảm thấy không vui về những thứ đặc biệt – như công việc, bạn đời, cô đơn hoặc những tình huống khó khăn như vừa mất người thân. Họ có thể không hạnh phúc, nhưng họ có những khoảng thời gian họ cảm thấy như là chính mình, hoặc có thể làm dịu bản thân, như có một người đã nói “Tôi ghét cuộc sống của mình…nhưng khi tôi đọc một cuốn sách ở nhà, tôi cảm thấy hạnh phúc.” Continue reading

1

Thuốc Chống Trầm Cảm Và Những Điều Cần Biết

Không chỉ cần thời gian để chẩn đoán đúng trầm cảm, tìm ra loại thuốc thích hợp để chữa trị bệnh cũng là một quá trình phức tạp không kém. Có người có những vấn đề y tế nghiêm trọng khác như các bệnh về tim, phổi hay thận làm cho thuốc chống trầm cảm trở nên nguy hiểm khi dùng. Thuốc chống trầm cảm có thể không hiệu quả với bạn hay liều lượng không đúng, hoặc chưa đủ thời gian để thấy được tác dụng của thuốc, hay những tác dụng phụ quá mức chịu đựng, dẫn đến việc điều trị thất bại.

Nếu bạn dùng thuốc chống trầm cảm để điều trị rối loạn trầm cảm thì bạn cần nên nhớ những điều sau:

  1. Khoảng 30% người mắc trầm cảm thuyên giảm hoàn toàn sau lần đầu dùng thuốc chống trầm cảm, dựa trên một nghiên cứu năm 2006 được tài trợ bởi Viện sức khỏe quốc gia. Những người thuyên giảm nhanh thường dùng liều thuốc cao hơn trong khoảng thời gian dài so với những người khác.
  2. Một số loại thuốc chống trầm cảm có hiệu quả tốt hơn với một số người. Việc thử dùng nhiều loại thuốc điều trị trầm cảm khác nhau trong chữa trị không phải là điều kỳ lạ.
  3. Có nhiều người cần nhiều hơn một loại thuốc để chữa trị trầm cảm.
  4. Thuốc chống trầm cảm có cảnh báo trên hộp về việc tăng nguy cơ, suy nghĩ và hành vi tự tử ở trẻ em, thiếu niên và thanh niên trong độ tuổi 18-24t.

Continue reading

7

Một Vài Điều Về Trầm Cảm

Một trong những điểm yếu của DSM mà rất may là DSM-5 đã chỉnh sửa phần nào, chính là việc nó phân loại các rối loạn tâm lý vào danh mục (category), chẩn đoán dựa vào việc liệu bạn có những triệu chứng rối loạn không, mà không dựa vào các khía cạnh (dimensional) và độ nặng nhẹ của triệu chứng (severity). Việc phân loại như thế dễ gây ra xảy ra việc chẩn đoán sót các ca rối loạn tâm lý nhẹ, hoặc gây ra các hiểu lầm như người mắc rối loạn tâm lý phải có bao nhiêu đây triệu chứng, hoặc đóng khung một dạng rối loạn nào đó dẫn đến các nhận thức sai lệch về rối loạn tâm lý mà điển hình nhất là trầm cảm.

Các nhận thức sai lầm thường thấy nhất về trầm cảm đó chính là người mắc trầm cảm không nỗ lực, hay trầm cảm là hệ quả từ thái độ/lối sống không tích cực, họ không muốn được giúp đỡ, hoặc tất cả chỉ là do họ tưởng tượng ra, hoặc người mắc trầm cảm phải giống như thế này…

Sự hợp tác của bệnh nhân với bác sĩ là một phần quan trọng trong điều trị và theo những gì mình quan sát được khi thực tập ở các phòng khám, thì phần lớn những người mắc rối loạn tâm lý là một trong những người nỗ lực, hợp tác với bác sĩ nhất. Họ luôn cân nhắc hỏi bác sĩ khi có vấn đề với thuốc, uống đúng giờ đúng liều, luôn làm hẹn mỗi khi thuốc gần hết để quyết định xem nên dừng hay nên uống tiếp, tập thể dục để cải thiện sức khoẻ. Nhưng có những trường hợp như cơ thể người bệnh không cho phép những hoạt động nhẹ nhàng nhất như đi bộ vì đầu gối chấn thương, hay trường hợp họ không may mắc phải dạng rối loạn tâm lý không phản ứng với thuốc nên phải không ngừng tìm kiếm những phương pháp chữa trị khác. Thế nên nói những người như họ không nỗ lực, hay không biết phấn đấu thay đổi cuộc sống là những lời nói thiển cận, ác độc nhất với mình.

Trong bài diễn thuyết ở TedX, giáo sư Andrew Solomon, một nhà văn, nhà báo từng đoạt nhiều giải thưởng và hiện đang giảng dạy về tâm lý học lâm sàng ở trường đại học Columbia, Mỹ đã kể về một ca bệnh mà ông ấn tượng nhất. Một người đàn ông trung niên mắc rối loạn trầm cảm hàng năng trời và không phản ứng với bất kỳ loại thuốc chống trầm cảm nào, và ông phải đi sốc điện mỗi tháng. Tuần đầu sau khi sốc điện rất tệ, nhưng ông khá hơn vào tuần sau để rồi tuần tới lại rơi vào cơn trầm cảm tồi tệ và tuần sau đó nữa ông lại đi sốc điện tiếp. Ông nói với Andrew Solomon rằng, “Tôi thật không thể chịu đựng nổi khi phải trải qua những tuần như thế này, và tôi đã quyết định rằng tôi sẽ chấm dứt tất cả nếu như tôi không cảm thấy khá hơn. Nhưng, tôi nghe ở Mass General có cuộc giải phẫu não và tôi nghĩ rằng mình nên thử xem như thế nào.” Thời điểm đó Andrew cảm thấy rất ngạc nhiên rằng một người đã trải qua nhiều trải nghiệm tồi tệ như thế với đủ loại chữa trị vẫn cất giữ một chút lạc quan và hy vọng bên trong để thử thêm một lần nữa. Và may mắn làm sao, đợt phẫu thuật ấy đã thành công. Ông kiếm được việc làm, có thể tự chăm sóc bản thân. Khoa học chứng minh những người có chỉ số loạn thần và lối suy nghĩ nghiền ngẫm quá mức (rumination), hoặc tiêu cực dễ mắc các dạng rối loạn cảm xúc. Tuy nhiên, với bản thân mình thì họ cũng là những con người can đảm và tích cực ngay cả khi hoàn cảnh hay trải nghiệm của họ không như thế.

Một nhận thức sai lầm khác là trầm cảm chỉ có ở người lớn và người giàu có. Có không ít trường hợp những đứa trẻ mới tầm độ tuổi 8-9 mắc rối loạn trầm cảm không phản ứng với thuốc nên dùng sốc điện để chữa trị. Và người nghèo có nguy cơ mắc các dạng rối loạn tâm lý cao hơn những người có tài chính địa vị trong xã hội. Mà một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là người nghèo không có khả năng chi trả phí điều trị, hay không đủ kiến thức để biết được những gì họ đang trải qua là một dạng rối loạn tâm lý. Mỗi tuần mình đi thực tập một ngày ở phòng khám miễn phí dành cho người nghèo và người không có bảo hiểm ở Mỹ, và trong những ngày đó mình quan sát thấy được khoảng từ 3-5 trên tổng số 15 bệnh nhân trong ngày đến khám và xin thuốc để điều trị rối loạn tâm lý. Có những khi phòng khám không còn thuốc để cung cấp miễn phí và đành phải kê đơn để họ mua ở nhà thuốc thì họ cố gắng tiết kiệm đến mức cắt nửa viên thuốc ra uống hoặc uống khi cần kíp, mặc dù biết rằng giảm liều như thế có thể ảnh hưởng đến quá trình hồi phục.

Chúng ta cũng thường bỏ quên những người mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao. Bề ngoài, họ có thể luôn vui vẻ, hoàn thành công việc của mình, luôn giúp đỡ người khác, luôn đứng đầu trong các hoạt động, khiến những người xung quanh khó mà nhận ra họ đang vật lộn với những suy nghĩ tiêu cực bên trong. Họ trải nghiệm cuộc sống cứng nhắc như một robot, không thể hưởng thụ niềm vui, cũng như không có mục tiêu gì cả. Họ có thể không cảm thấy đau đớn, buồn bã khó chịu. Nhưng nếu phải miêu tả cảm xúc của họ thì đó là tê dại.

Một người bạn mắc rối loạn trầm cảm chức năng cao đã nói với mình như thế này, “Đầu tiên, tôi từ bỏ việc tìm kiếm thấu hiểu từ gia đình. Sau đó, tôi từ bỏ việc hòa nhập với bạn bè trong lớp. Rồi đến những bạn bè cùng sở thích. Và nhóm bạn “thân”, cùng những cá thể “đặc biệt quan trọng”. Tôi từ bỏ việc thấu hiểu nhân loại cũng như tìm kiếm đồng cảm từ nhân loại. Hằng ngày tôi vẫn đều đặn đi học, và hiện tại thì vẫn đều đặn đi làm. Tôi vẫn chơi game, vẫn vẽ, vẫn viết, vẫn đi cafe hay xem phim ảnh. Nhưng sau mỗi sự buông bỏ kia, cảm giác trống rỗng trong lòng tôi tăng dần lên. Tôi hay nói ở vị trí tim mình là một hố đen sâu hoắm, và khó thở.

Từ năm cấp ba, tôi đã mắc chứng nghiện nhổ tóc, tận giờ vẫn chưa khỏi. Một điều buồn cười là dù biết rằng mình chẳng có lỗi gì khi mắc chứng này, thế nhưng tôi vẫn luôn thấy trong lời nói của người khác có sự trách móc rằng tôi không đủ ý chí kiểm soát cơ thể mình, tư duy ngu ngốc và kỳ quái. Hoặc cũng có đôi khi họ vô tình nói đúng vấn đề, rằng “mày bị thần kinh sao mà nhổ tóc hoài vậy?”. Bởi thế mà tuy hiện tại tôi đã ngừng tự trách cũng như có ý thức giảm bớt hành vi của mình, nhưng tôi vẫn luôn né tránh bàn luận trực tiếp chủ đề đó với những người “bình thường” khác.

Trầm cảm giống như bất kỳ chứng bệnh thể lý nào, ai cũng có khả năng mắc phải và nó không chừa một ai cả.  Trầm cảm không nhất thiết phải biểu lộ ra hết tất cả những triệu chứng có trong DSM, và các triệu chứng biểu hiện khác nhau tùy theo mỗi người. Và điều mà chúng ta nên làm là không nên đóng khung biểu hiện bệnh lý hay tự chẩn đoán và nếu người thân chúng ta nghĩ rằng họ có thể mắc một dạng rối loạn tâm lý nào đấy thì nên hỗ trợ họ tìm kiếm sự giúp đỡ từ các chuyên gia càng sớm càng tốt hơn là chối bỏ vấn đề của họ.

Mình muốn kết bài bằng một câu nói mà mình đọc được khi lang thang trên mạng tìm kiếm tư liệu để viết bài, “Không thiếu những lúc chúng ta được nhắc nhở rằng rối loạn tâm lý không phân biệt một ai cả, nhưng rồi chúng ta lại quay trở về với suy nghĩ thiển cận rằng rối loạn tâm lý nên biểu hiện như thế nào. Và điều đó rất là nguy hiểm.”

-Nguyệt-

6

Tâm Lý Học: Ảo Giác Về Quyền Điều Khiển

Ảo giác về quyền điều khiển (Illusion of control)  là khuynh hướng một người đánh giá quá cao khả năng anh ta điều khiển được các tình huống, sự kiện. Ví dụ, hiện tượng này xảy ra khi anh ta cảm giác được quyền điều khiển đối với kết quả của một sự kiện mà rõ ràng là anh ta không có sức ảnh hưởng gì. Hiệu ứng này được đặt tên bởi nhà tâm lý học Ellen Langer và được cho rằng có ảnh hưởng đến các hành vi cờ bạc và niềm tin về những điều siêu nhiên.

Ảo giác về quyền điều khiển rất thường xảy ra ngay cả trong tình huống ngẫu nhiên nhất. Và đặc biệt, nó thường xảy ra trong những hoàn cảnh có liên quan đến cá nhân, sự tương đồng, biết trước kết quả mong muốn, và sự tập trung về thành công. Khi một tình huống hoàn toàn ngẫu nhiên có những dấu hiệu vừa liệt kê xảy ra thì người ta cư xử, hành động như thể kết quả của tình huống ấy được quyết định bởi họ, hay nói chính xác hơn là những kỹ năng của họ. Những yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến hiệu ứng này bao gồm trạng thái, khí sắc trầm uất và nhu cầu về quyền không chế. Tức là ảo giác về quyền điều khiển sẽ thấp và yếu với những người bị trầm cảm hoặc đang trong trạng thái trầm uất. Họ thường nghĩ mình sẽ không thay đổi được gì và mọi chuyện sẽ không bao giờ khá lên được. Những người trầm uất và người không trầm uất khác nhau ở khả năng họ xác nhận sự thiếu hụt quyền điều khiển. Với những người không trầm cảm, họ phô bày ảo giác về quyền điều khiển khi đánh giá mức độ điều khiển mà họ có được với một sự kiện mà hậu quả rõ ràng là không nằm trong quyền điều khiển của họ. Còn với những người trầm cảm thì họ có nhận thức chính xác hơn về sự khuyết thiếu quyền điều khiển của mình. Điều này thường được coi là thiếu hụt động lực (hoặc ngược lại, thiếu nhạy cảm về quyền điều khiển nằm trong những chuỗi nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm).  Ngược lại, ảo giác về quyền điều khiển sẽ mạnh đối với những người có nhu cầu và cảm giác cần thiết để khống chế. Ảo giác này càng mạnh hơn trong những tình huống áp lực và cạnh tranh bao gồm các vấn đề liên quan đến trao đổi kinh tế.

strings

Nguồn: advisoranalyst

Trong những nghiên cứu khá thú vị về hiệu ứng này, Langer chứng minh rằng người ta thường đánh giá cao quyền điều khiển của mình trong những tình huống đơn thuần ngẫu nhiên. Ví dụ, trong một thí nghiệm, một số người được quyền lựa chọn vé sổ xố cho mình, còn một số người thì được phát vé sổ xố. Sau đó, những người tham gia cuộc thí nghiệm được quyền đổi vé số một lần với khả năng trúng giải cao hơn. Mặc cho sự thật rằng nếu đổi vé số thì khả năng trúng số sẽ cao hơn, nhưng những nguời được quyền lựa chọn vé số ban đầu không đổi số. Họ vẫn giữ tấm vé số mà mình chọn ban đầu. Dường như họ nghĩ rằng, tự mình chọn vé số làm tăng khả năng họ trúng giải – như thể hành động lựa chọn vé số của họ cho họ quyền điểu khiển kết quả sổ xố, mà rõ ràng các số được chọn trúng giải chỉ là ngẫu nhiên mà thôi và chẳng có liên quan gì đến chuyện họ là người chọn số, hay là được phát số cho.

Sự lựa chọn được cho là gây ra ảo giác về quyền khống chế. Người ta hành xử như thể họ có quyền điều khiển nhiều hơn nếu họ tự mình thảy xúc xắc hơn là người khác thảy cho họ. Khi người ta trông chờ vào một kết quả nào đó, và kết quả ấy xảy ra như họ mong muốn thì họ thường đánh giá quá cao mức độ ảnh hưởng của mình đối với kết quả ấy, như thể nhờ có mình, hay mình là yếu tố quyết định làm nên kết quả này. Tuy nhiên, mỉa mai thay, trong những tình huống mà người ta hoàn toàn có quyền điều khiển, thì họ lại đánh giá thấp quyền điều khiển của mình.

Vậy thì do đâu chúng ta lại có ảo giác về quyền điều khiển?  Một trong những nguyên do gây nên hiệu ứng này là động lực. Ở phương diện này, sự ước đoán của một người về quyền điều khiển bị  ảnh hưởng bởi những nhu cầu chủ quan có liên quan tới việc gìn giữ và phát huy lòng tự tôn của bản thân. Một trong những nhu cầu đó gọi là nhu cầu được điều khiển đã nhắc ở bên trên. Đã có những chứng minh cho thấy cảm giác nắm quyền điều khiển có liên quan tới sức khỏe. Và nhận thức về việc không thể điều khiển thì có quan hệ mật thiết với những hệ quả tiêu cực tới cảm xúc, nhận thức và cả trầm cảm.

Với tầm quan trọng về việc nhận thức và thật sự có quyền điều khiển, một số nhà nghiên cứu cho rằng ảo giác về quyền điều khiển là một kiểu thành kiến cá nhân nhằm ngăn ngừa một người khỏi những hệ quả tiêu cực từ việc không thể điều khiển như đã nêu trên. Đồng thời, hiệu ứng này cũng cho phép người khác được hưởng lợi và danh vọng từ những tình huống thành công và từ chối trách nhiệm với những sự kiện thất bại. Theo cách này thì khi một  người hành xử để đạt được kết quả như ý phải đối mặt với tình huống có xác suất thành công hay thất bại ngẫu nhiên, thì họ thường coi bản thân mình là yếu tố quyết định sự thành công và thất bại thì không phải lỗi của mình mà chỉ là xui thôi.

Hiệu ứng ảo giác về quyền điều khiển đã và đang được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Có thể thấy rõ hiệu ứng ảo tưởng về quyền điều khiển trong hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân. Đa số những người đổ lỗi cho nạn nhân, nhất là những nạn nhân bị cưỡng bức thường suy nghĩ, “nếu là mình thì chuyện này sẽ chẳng bao giờ xảy ra”, mà không nhận ra rằng chuyện bất hạnh có thể xảy ra với bất kỳ ai. Trích từ một bài viết cũ của mình,

Một trong những lý do khiến mọi người đổ lỗi cho nạn nhân là để cách ly họ ra khỏi những tình huống tiêu cực này và tự nhủ rằng họ sẽ không dễ gì gặp chuyện nguy hiểm như vậy. Bằng việc dán nhãn, hay đổ lỗi cho nạn nhân, người khác sẽ nhìn nạn nhân khác hẳn với họ. Mọi người tự trấn an với bản thân bằng cách suy nghĩ, “Bởi vì mình không giống như cô ta, bởi vì mình không làm như thế, cho nên chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra với mình.”

Nghiên cứu được thực hiện bởi tiến sĩ Ronnie Janoff- Bulman đề xuất ý kiến rằng đôi lúc ngay cả nạn nhân cũng tự hạ thấp bản thân họ, rằng chính những hành vi của bản thân là nguyên nhân dẫn đến sự đau đớn, bất hạnh mà họ gặp phải, chứ không phải là tính cách thường ngày của họ, để cho những sự kiện tiêu cực trông có vẻ như có thể điều khiển được, và do đó, có thể tránh được trong tương lai.

Lerner giả thuyết rằng gốc rễ của xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nằm ở niềm tin trong một thế giới, cái thế giới mà mỗi hành động đều đoán trước được những hậu quả đi kèm, và con người có thể điều khiển được những gì xảy ra với họ. Nó nằm cả trong những câu tục ngữ, câu nói thông thường như “Gieo nhân nào, gặt quả ấy”, hay “ Gieo gió ắt gặt bão”. Chúng ta muốn tin rằng công lý sẽ đến với những người làm ác, trong khi người tốt, trung thực, tuân thủ luật pháp sẽ được tưởng thưởng. Nghiên cứu đã tìm ra, không ngạc nhiên gì, với những người tin rằng thế giới là một nơi tốt đẹp thì họ thường hạnh phúc hơn và ít đớn đau. Nhưng niềm hạnh phúc này đều có cái giá của nó, nó có thể làm giảm đi sự thấu cảm của chúng ta với những người gặp bất hạnh, và thậm chí chúng ta có thể làm tăng nỗi đau đớn ấy thêm bằng việc chỉ trích.

Những nghiên cứu gần đây chỉ ra những người mắc trầm cảm thường có đánh giá chính xác hơn về sức điều khiển của họ với tình huống hơn người không mắc trầm cảm. Hiện tượng này được gọi là chủ nghĩa hiện thực trầm cảm (depressive realism) và có thể được phân tích như sự khuyết thiếu động lực của người mắc trầm cảm khi không dùng cơ chế tự phục vụ bản thân (self-service) dẫn đến ảo giác về quyền điều khiển.

Quá ảo tưởng về quyền điều khiển sẽ che mờ mắt và khiến chúng ta trở nên vô cảm, khuyết thiếu hiệu ứng này lại khiến chúng ta mất đi động lực và lâu dài lại trở nên trầm cảm. Từ khóa ở đây là cân bằng. Rất khó để biết đâu là điểm cân bằng. Vì thế trước khi chỉ trích thì nên ngẫm nghĩ rằng, thật sự mình có thể làm tốt hơn thế trong hoàn cảnh của họ hay không, trước khi tự trách thì nên đắn đó, liệu mình có thể làm gì để thay đổi, đồng thời nhận ra rằng có những thứ mình không thể điều khiển được.

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims

 

_____________________

HẢI ĐƯỜNG TĨNH NGUYỆT

Nguồn:
Illusion of control: The Role of Personal Involvement

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4013923/

Illusion of control: How We Overestimate Our Personal Influence

https://www.jstor.org/stable/20182602?seq=1#page_scan_tab_contents

Keeping Illusion of Control under Control: Ceilings, Floors and Imperfect Calibration

https://marketing.wharton.upenn.edu/mktg/assets/File/Moore_IOC_2010-10-18.pdf

Why Do We Blame Victims

https://www.psychologytoday.com/blog/in-love-and-war/201311/why-do-we-blame-victims

0

Chúng ta nên nói gì với người đang buồn?

Cách đây vài tháng mình có đăng bài “Tại sao không nên nói ‘vui lên đi’ với người đang buồn” và có nhiều bạn hỏi mình, “Nếu không nói như thế thì nên nói cái gì?”

Đôi lúc bạn không biết phải nói gì với bạn bè hay người thân đang buồn hoặc trầm cảm. Bạn có thể sợ rằng những gì mình nói khiến cho họ càng lo lắng, buồn thêm hoặc cảm thấy bị xúc phạm. Bạn không biết mình nên hỏi câu gì hoặc nên làm cái gì để có thể giúp đỡ người ta.

Nếu bạn không biết phải bắt đầu thế nào thì những gợi ý dưới đây có thể giúp bạn. Tuy nhiên, xin hãy nhớ kỹ rằng, là một người lắng nghe chân thành QUAN TRỌNG hơn là đưa ra lời khuyên. Như trong bài dịch có nhấn mạnh, những người đang buồn hoặc trầm cảm, họ mong muốn được người khác thừa nhận nỗi buồn của họ, nỗi lo âu của họ và những gì họ trải qua là thật và việc bộc lộ cảm xúc chẳng có gì sai cả. Bạn không phải cố gắng “sửa” họ, bạn chỉ cần là một người lắng nghe chân thành mà thôi. Thường thì, nói chuyện mặt đối mặt có thể là một sự giúp đỡ to lớn với những người mắc trầm cảm. Khuyến khích những người trầm uất nói về cảm xúc của họ và sẵn sàng lắng nghe, không phán xét. Nên nhớ họ đang nói về những cảm xúc của họ và điều đó không có gì là sai cả. Continue reading

1

Nỗi Đau Nào Lớn Hơn? Của Bạn Hay Của Tôi?

Rogers và tôi lái xe cùng nhau tới Prescott, Arizonna . Anh ấy là một người bạn và là một mục sư ở một nhà thờ bên ngoài thành phố Phoenix. Tôi sẽ có một phát biểu ở một buổi tu đạo mà anh ấy tổ chức cho những người trong nhà thờ anh ấy tại trung tâm tu đạo trên núi.

Những đứa con tôi lúc ấy vẫn còn trong độ tuổi thanh thiếu niên, và chúng thì…ừm, cứ là teenager thôi. tuần đó lại là cái tuần mà chúng đã có những quyết định khiến tôi chẳng thể nào hiểu nổi.

Cha mẹ nào cũng từng trải qua những lúc như vậy, tự hỏi tại sao bác sĩ không gửi kèm một bản hướng dẫn nuôi dạy khi đám trẻ được sinh ra.

Trong một cuộc nói chuyện đầy thử thách giữa tôi và mấy đứa nhỏ, tôi thì không thể hiểu được tại sao chúng không chấp nhận lời khuyên của tôi (dĩ nhiên là trong mắt tôi thì những lời khuyên ấy rất là khôn ngoan…). Chúng là những đứa trẻ rất khôn lanh và chín chắn nhưng đợt ấy chúng cứ khăng khăng đòi làm ra những quyết định điên khùng. Khi cuộc nói chuyện kết thúc, con gái tôi mới nói “Nhưng cha à, con muốn tự mình phạm lỗi và vấp ngã.” Continue reading

9

Tôn trọng nỗi buồn của người khác

Có một dạo tôi bị trầm cảm, và khi nói chuyện với chị tôi, chị ấy bảo, “Chắc phải có vấn đề gì đó thì em mới như vậy, hoặc là do em yếu hơn chị chứ chị còn trải qua nhiều chuyện hơn em nhưng giờ chị vẫn ổn. Em hãy nghĩ tích cực lên đi.”

“Nghĩ tích cực đi”, “Mới vấp ngã có chút mà đã vật vã như thế, sau này gặp chuyện lớn hơn thì làm thế nào?”, “Sao em yếu đuối thế, có chút chuyện như vậy mà cũng không vượt qua được”, “Chị còn trải qua nhiều chuyện tồi tệ hơn em nhưng chị vẫn vượt qua được đấy thôi. Đấy là do em, em phải mạnh mẽ hơn”, “Sống sung sướng từ nhỏ quen rồi, giờ chịu có chút khổ cũng không chịu được” . Đây là những câu tôi thường hay nghe được, không chỉ từ người thân mình mà còn từ những người xung quanh và đây cũng là những câu nói dễ gặp nhất ở phần comment dưới những câu chuyện chia sẻ nỗi buồn mà chúng ta thường hay thấy ở trên mạng.

Dù rằng những câu nói trên có xuất phát từ ý tốt muốn động viên, muốn khích lệ, hay muốn người nghe cảm thấy chuyện của họ không tệ đến mức đó thì trên thực tế những lời khuyên này lại mang hơi hướm đổ lỗi và khiến cho người nghe cảm thấy tồi tệ hơn mà thôi. Như bài viết “Tại sao không nên nói vui lên đi với người đang buồn” mà blog đã đăng ở bên dưới có nói, nếu người ta có thể chọn lựa vui lên thì chẳng ai buồn ngay từ ban đầu. Continue reading